Tuesday, February 18, 2014

KINH VĂN THÙ SƯ LỢI CĂN BẢN NHẤT TỰ ĐÀ LA NI

KINH VĂN THÙ SƯ LỢI CĂN BẢN NHẤT TỰ ĐÀ LA NI TRONG ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG BỒ TÁT TẠNG KINH
Hán dịch: Đại Đường, Bắc Ấn Độ, nước Ca Thấp Di La, Tam Tạng BẢO TƯ DUY
Việt dịch: HUYỀN THANH
Như vậy tôi nghe. Một thời Đức Phật trụ trong Đạo Tràng Bảo Trang Nghiêm tại Trời Tịnh Cư cùng với Đại Bồ Tát và các Thiên Chúng của cõi Tịnh Cư đến dự.
Bấy giờ Đức Thế Tôn Đại Từ Đại Bi ở trong Hội này bảo khắp tất cả các Thiên Chúng rằng:”Các ông hãy lắng nghe Hành Luân Chú Pháp của Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử. Vì muốn thủ hộ các chúng sinh cho nên tất cả Như Lai đã có Bí Mật Tâm Đại Thần Chú Vương. Nay Ta sẽ vì các ông mở bày hiển nói.Nếu có người tụng thì Ta ghi nhận người này khi đã trì xong tất cả các Chú thảy đều viên mãn , tất cả chỗ làm đều được thành tựu, không có gì hơn được.
Các ông nên biết Đà La Ni này ở trong các Chú là Đại Thần Chú Vương có đại thần lực.
Nếu kẻ trai lành, người nữ thiện hay thọ trì thì Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thường đến ủng hộ. Hoặc trong lúc tỉnh hoặc ở trong mộng , vì họ hiện thân tướng với các việc lành hay khiến cho người này sinh đại hoan hỷ.
Này các Thiện Nam Tử ! Chú Vương này còn hay nhiếp được Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử Bồ Tát huống chi Bồ Tát với chúng của hàng Hiền Thánh thuộc Thế Gian và Xuất Thế Gian khác.
Lại nữa Thiện Nam Tử ! Chú này hay tiêu diệt tất cả tai chướng, tất cả mộng ác, tất cả oán địch, tất cả nghiệp tội của năm Nghịch, bốn Trọng, mười Ác; tất cả Chú Pháp tà ác chẳng lành cũng hay hoàn thành tất cả việc lành đầy đủ đại tinh tiến. Nên biết Chú đó ở trong mọi loại Chú thuộc Thế Gian và Xuất Thế Gian là thù thắng hơn hết. Là tâm của các Phật hay khiến cho tất cả ước nguyện thảy đều mãn túc. Nếu dùng chỉ ngũ sắc kết sợi dây Chú (Sách Chú ) buộc ở trên cổ sẽ ủng hộ thân của mình cũng khiến cho các Nguyện đều được viên mãn, không có gì vượt qua được
Liền nói Chú là:
Án, Xỉ-lâm
OMÏ _ ‘SRÌMÏ
(Bản khác ghi là:   OMÏ ‘SRHYIMÏ )
Này các hàng Phật Tử ! Chú này hay diệt tất cả Võng Lượng tà ác, các Quỷ. Là Pháp cát tường của tất cả chư Phật, cũng hay thành tựu tất cả Thần Chú. Người tụng Chú này hay khiến chúng sinh khởi tâm Đại Từ, hay khiến chúng sinh khởi tâm Đại Bi, tất cả chướng ngại đều được tiêu diệt, hết thảy các nguyện đều được mãn túc. Lúc chưa tác Pháp thời liền hay hoàn thành việc như ý
Nếu phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề, tụng một biến sẽ có sức mạnh hay thủ hộ thân của mình.
Nếu tụng hai biến sẽ có sức mạnh hay thủ hộ đồng bạn.
Nếu tụng ba biến sẽ có sức mạnh hay thủ hộ người trong một nhà.
Nếu tụng bốn biến sẽ có sức mạnh hay thủ hộ người trong một cái thành.
Nếu tụng năm biến sẽ có sức mạnh thủ hộ người trong một nước.
Nếu tụng sáu biến sẽ có sức mạnh thủ hộ người trong một thiên hạ.
Nếu tụng bảy biến sẽ có sức mạnh thủ hộ người trong bốn thiên hạ.
Nếu sáng sớm, tụng một biến chú vào nước rồi rửa mặt sẽ hay khiến cho người nhìn thấy vui vẻ
Chú vào hương xông ướp áo cũng khiến cho người nhìn thấy vui vẻ.
Nếu bị đau nhức răng, chú vào cây tăm xỉa răng rồi nhai nhấm, xỉa răng thì chỗ đau nhức liền khỏi.
Nếu có người nữ bị nạn sinh đẻ khó thời lấy rễ cây A Tra Lô Sa Ca, hoặc rễ cây Lang Già Lợi Ca… rồi chú vào bảy biến. Lấy nước không có trùng hòa lẫn rồi xoa bôi trong rốn của sản phụ , liền sinh đẻ dễ dàng.
Hoặc các người nam bị trúng tên, mũi nhọn cắm sâu vào gân xương, nhổ chẳng ra. Lấy ba lượng bơ mười năm, chú vào 108 biến rồi để trong vết thương, và ăn bơ đó thì đầu nhọn của mũi tên liền xuất ra.
Nếu có phụ nữ, năm năm cho đến 23 năm chẳng sinh con. Hoặc tự có bệnmh, hoặc người nam có bệnh, hoặc mọi loại bệnh do Quỷ Mỵ gây ra, hoặc bị trúng thuốc độc. Nên lấy năm lượng bơ từ mười năm trở lên, một lượng lông vũ của chim công… bỏ vào trong bơ rồi chú 21 biến. Trước tiên, đâm giã cho vụn nát, dùng một lượng Thạch Mật, ba hột Ha Lê Lặc lớn , bỏ hạt lấy vỏ rồi hòa chung. Xong chú vào 108 biến, thường mỗi buỗi sáng, bụng trống rỗng (chưa ăn uống gì), uống hết vào thì nội trong bảy ngày liền có thai
Nếu bị đau nhức đầu, lấy lông cánh chim quạ, chú vào bảy biến rồi phủi phất đầu của người bị đau thì bệnh liền khỏi.
Nếu có người bị bệnh sốt rét, một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày hoặc thường phát bệnh. Dùng thuân sữa nấu cháo, bỏ một lượng bơ tốt vào, chú 108 biến rồi cho người bệnh uống, liền được khỏi bệnh.
Này các Thiện Nam Tử ! Dùng lời cần yếu nói. Nếu muốn hòa hợp tất cả thuốc thang với muốn cho người uống. Trước tiên nên chí tâm tụng 21 biến sẽ mau được như nguyện.
Lại nữa Thiện Nam Tử ! Nếu có tất cả chúng sinh bị Phi Đầu Quỷ gây bệnh . Dùng tay tự xoa mặt của mình, tụng Chú 108 biến , làm tướng mạo đáng sợ, liền dùng tay trái tác Bản Sinh Ấn, co ngón cái ngay trong lòng bàn tay, đem bốn ngón còn lại đè trên ngón cái rồi gấp rút nắm quyền . Tức tự trợn mắt giận dữ (nộ mục), ngầm tụng Chú này rồi nhìn người bệnh , thời kẻ ấy liền khỏi bệnh
Nếu người bị tất cả bệnh Quỷ. Dùng Chú chú vào bàn tay phải 108 biến, thiêu đốt An Tất Hương xông ướp. Tay trái tác Bản Sinh Ấn, tay phải xoa đầu người bệnh, thì bệnh liền khỏi
Nếu có oán địch với các mộng ác, mọi loại sợ hãi, thân tâm chẳng an. Dùng chỉ ngũ sắc kết sợi dây chú, làm hình hoa sen, hoặc làm hình bánh xe, hoặc làm hình chày Kim Cương rồi chú vào 108 biến, đốt An Tất Hương xông ướp ở trong bảy ngày rồi buộc trên cổ của thân mình thời tất cả ách nạn thảy đều tiêu tan.
Hoặc dùng Ngưu Hoàng nghiền ra làm mực, ở trên giấy sạch hoặc trên lụa trắng… vẽ làm hình đáng sợ, ở bốn bên làm chữ Xỉ Lâm, hoặc làm hoa sen, hoặc làm chữ chạy vòng (Luân Tự), hoặc làm nhóm chữ Vạn, vỏ ốc, cá, móc câu Kim Cương, bình báu….Chú vào bảy biến liền trừ hết sự sợ hãi
Này các Thiện Nam Tử ! Nếu muốn đi qua nơi có sư tử, cọp, sói, rắn độc, oán tặc, tất cả chỗ hiểm nạn…. thì cần phải thanh tịnh thân tâm, chẳng được gần các người nữ với ăn tất cả ngũ tân (hành, hẹ, tỏi, nén, hưng cừ), rượu, thịt, cải dầu (vân đài), Hồ Tuy (một thứ rau, lá non dùng nấu món ăn)… đối với các chúng sinh khởi tưởng Đại Bi, chí tâm tụng Chú 49 biến thì tất cả các oán tự nhiên lui tan. Giả sử có gặp gỡ thì không có gì không vui vẻ
Này các Thiện Nam Tử ! Chú này đối với tất cả chúng sinh hoặc ở một kiếp, hoặc vô lượng kiếp cho đến tên gọi còn chẳng thể được nghe thì làm sao được thấy để chuyên tâm niệm tụng ?!... Giả sử khiến cho bảy báu , voi, ngựa tràn đầy cõi Diêm Phù Đề thời đều là Pháp hoại diệt của Thế Gian
Đà La Ni Chú này hay khiến cho chúng sinh đời hiện tại, đương lai thường được an ổn cùng với các Như Lai, chúng Đại Bồ Tát thường làm quyến thuộc. Hoặc vì thân mình, hoặc vì thân người khác thời ước nguyện đều được. Chính vì thế cho nên cần sinh tưởng khó gặp , chẳng được kinh mạn khởi tâm nghi hoặc.
KINH VĂN THÙ SƯ LỢI CĂN BẢN NHẤT TỰ ĐÀ LA NI
TRONG ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG BỒ TÁT TẠNG KINH (Hết)

Bài kinh giáng bút của Quan Vân Trường

Bài kinh giáng bút của
Quan Vân Trường

( dịch bài “Quan Thánh Đế giáng bút chân kinh” , ở chùa Ông )

Quan Công Thánh Đế là ta
Sắc dụ quần chúng liệu mà nghe cho
Thế gian mọi sự nhỏ to
Dựa lòng chân thực mà lo ở đời
Quang minh, bất khuất sáng ngời
Tử sinh thuận nghịch là đôi ngả đường
Ta hay giáng thế như thường
Anh em Hoàng Thúc đường đường ba ngôi
Vườn Đào xưa nổi tiếng rồi
Ngọn đao, bó đuốc đời đời vẫn thiêng
Đến , đi đều rõ mọi miền
Xả thân Ngô, Thục diệt phường Ngụy gian
Trời thương trung hiếu, gian nan
Cho Ta phân xử trắng đen dưới trời
Sai Ta đi khắp mọi nơi
Dò xem mọi kẻ ở đời nịnh, trung
Mọi lũ gian xảo tham tàn
Tội đền quả báo, Ta làm thẳng tay:
Văn nhân lười học tối ngày,
Hoạn quan xu nịnh lại hay lạm quyền,
Dối cha lừa mẹ bề trên,
Dửng dưng chẳng giúp láng giềng một tay.
Giàu nghèo phải kết bạn bầy
Đã rằng kết bạn, điều này ngũ luân
Lòng thành bình đẳng nhân quần
Sao gây rối rắm gian truân cho người ?
Tào Tháo nham hiểm một đời
Nay đang chịu tội phải ngồi âm ty
Khổng Minh trung thực, nghĩa nghì
Cõi âm được xếp hàng vi Thánh Hiền
Lòng ngay được hưởng phúc tiên.
Mưu gian đem lại cho liền họa tai.
Tội ngầm vẫn rõ như ngày.
Vô tư trời đất bắt tay đồng quần.
Gái mà ngoa ngoắt ngông cuồng
Đến đâu quỉ cũng phải nuông phải sầu.
Trai mà ngó trộm gái lầu,
Tính tình dâm đãng đi đâu cũng cuồng,
Tắt mắt trộm của xóm làng,
Rượu chè chìm đắm vào trong sòng bài,
Ganh nhau đọ thắng thi tài,
Càng hèn thì lại một mai càng nghèo !
Tu tâm cho tỉnh lại mau
Lơ lơ càng lún, càng sâu, càng tồi
Phạt cho ba kiếp luân hồi
Nghìn năm nghe chửi muôn đời khó tha
Bút phê thêm giảm chăng là
Lưỡi gươm phạt chém đầy nhà cho ngang!
Vợ mà lòng dạ sói lang
Ngoắt ngoa điếc bẩn xóm làng người ta,
Xúi chồng chửi cụ, chửi bà
Ta nay thấy vậy lòng đà giận sôi !
Vung đao mổ tượng đang ngồi
Chém lìa đứt mạng cái nòi con hư
Để vui lòng kẻ hiếu từ
Sớm hôm làm lụng kiếm dư đồng tiền.
Rồi ta nhảy phắt ngựa lên
Cần lao vạn dặm trên đường ruổi rong.
Muốn cầu sống mãi dạy con
Phải mau ngừng giết, phải còn phóng sinh,
Thịt trâu, thịt chó chớ ăn
Thì sẽ miễn được vào ngăn tù hình.
Nghe lời ta dạy phân minh
Gặp nguy, ta sẽ xuống trần giúp cho
Trói ma, trục quỉ ra trò
Ngọn đao sấm sét giương là máu tuôn
Giúp nước không kể trăm đường
Giúp mi thêm tước lại thường công huân
Đời rộng phú quí vĩnh hằng
Yên bình sống thọ chẳng màng rủi ro.
Nghĩ xằng, phá phép, liệu mà
Ta coi như thể cũng là lưu manh
Không cho sống ở trên trần
Mà đầy địa ngục thân bần rên la
Bấy giờ hối đã muộn mà
Hãy mau tuân phục như là pháp văn
Quay đầu bỏ ác, bỏ xằng
Khoan hồng hướng thiện sống lành dài lâu !

Monday, January 6, 2014

Phật Thuyết Thiên Địa Bát Dương Thần Chú Kinh



KINH THIÊN ĐA BÁT DƯƠNG



Phật Thuyết Thiên Địa Bát Dương Thần Chú Kinh


佛說天地八陽神呪經 (2897)

Đường Tam Tạng Pháp Sư Nghĩa Tịnh phụng chiếu dịch
HT Thích Hải Tràng  dịch
Âm
Cư Sĩ Thanh Tâm dịch nghĩa


BÁT DƯƠNG TÁN KỆ
Bát Dương kinh chú lý huyền thâm
Cứu khổ trừ tai hữu sự tầm
Y pháp tu hành chung giải thoát
Công thành quả mãn diệc do tâm.
Hòa Thượng Thích Hải Tràng đề tặng
CHỈ DẪN VỀ NHỮNG LỜI NGUYỆN
Chỉ dẫn đại khái về lời nguyện cho mỗi việc bằng tiếng Việt cho dễ hiểu mới thêm lòng tin tưởng. Đoạn nguyện này chung cho cả bốn việc điển hình sau đây:
Cúi mong Phật Tổ chứng minh, oai thần hộ niệm. Chúng con (họ, tên, và pháp danh) tuân theo giáo pháp của Phật, thành tâm trai giới, sửa lễ cúng dường, nguyện tụng Đại Thừa Pháp Bảo Thiên Địa Bát Dương Chân Kinh ba biến để cầu:
(Về việc xây cất nhà cửa)
Cho ngôi nhà đương sắp xây cất sẽ được hoàn thành tốt đẹp, lâu năm bền vững và sau khi đã dọn về ở, gia đạo sẽ được yên vui, làm ăn thạnh vượng, con cháu mạnh giỏi, đầy đủ phúc đức.
(Về việc hôn nhân)
Cho việc hôn nhân của đôi trẻ (tên họ người chồng và người vợ) nhờ ơn chư phật và chư bồ tát gia hộ, sau khi thành hôn sẽ được chồng hòa vợ thuận, trăm năm hạnh phúc, con cháu hiếu thảo, thông minh sáng suốt, hưởng cảnh gia đình đầm ấm vui tươi.
(Về việc cầu an cho bệnh nhân)
Cho bệnh nhân (tên họ người bệnh) sẽ được nhờ ơn chư phật và chư bồ tát gia hộ, khu tà trục quỉ, khiến cho bệnh căn thuyên giảm, thuốc thang điều trị mau được bình phục.
(Về việc tẩn liệm an táng)
Cho hương linh (họ tên người chết) vừa mới từ trần ngày... tháng... năm..., mong nhờ oai thần phật lực che chở, sẽ được yên vui trong cõi hư vô, không bị hung thần ác quỉ nhiểu phạm, còn thân quyến ở trên trần thế này cũng sẽ được bình an khương thới, không chi tổn hại. Còn các việc khác, tùy theo sự quan trọng của từng việc mà phát nguyện, đại khái như đã chỉ ở trên.

NGHI THỨC TỤNG KINH
Trước thời tụng kinh, cần phải rửa mặt, súc miệng sạch sẽ, mặc áo tràng đàng hoàng, tới trước bàn Phật, đốt ba cây hương, xong đứng ngay ngắn trước bàn Phật, tay mặt cầm hương, tay trái cầm dùi chuông, thỉnh ba tiếng chuông, kế hai tay giao lại cầm hương đưa lên ngang trán, đầu hơi cúi, để hết tâm thành tưởng Phật, miệng đọc:
HIẾN HƯƠNG KỆ
Giới hương, định hương, dữ huệ hương,
Giải thoát, giải thoát tri kiến hương,
Quang minh vân đài biến pháp giới,
Cúng dường thập phương Tam bảo tiền.
Nam mô Hương cúng dường Bồ tát ma ha tát. (niệm 3 lần)

TÁN PHẬT VÀ LỄ PHẬT
Pháp vương vô thượng tôn,
Tam giới vô luân thất,
Thiên nhân chi đạo sư,
Tứ sanh chi từ phụ,
Ư nhứt niệm qui y,
Năng diệt tam kỳ nghiệp,
Xưng dương nhược tán thán,
Ức kiếp mạc năng tận,
Năng lễ sở lễ tánh không tịch,
Cảm ứng đạo giao nan tư nghị,
Ngã thử đạo tràng như đế châu,
Thập phương chư phật ảnh hiện trung,
Ngã thân ảnh hiện chư phật tiền,
Đầu diện tiếp túc qui mạng lễ:
Nhứt tâm đảnh lễ: tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai, thập phương chư phật, tôn pháp, hiền thánh tăng thường trú tam bảo. (Đánh một tiếng chuông và lạy một lạy).
Nhứt tâm đảnh lễ: Ta Bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Long Hoa Giáo Chủ Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Đại Hạnh Phổ Hiền
Bồ tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ tát. (Đánh một tiếng chuông và lạy một lạy).
Nhứt tâm đảnh lễ: Tây Phương Cực Lạc Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ tát, Đại Lực Đại Thế Chí Bồ tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát. (Đánh một tiếng chuông và lạy một lạy).
(Đảnh lễ xong, quì xuống phát nguyện tùy theo từng việc cho minh bạch)
TÁN LƯ HƯƠNG
Lư hương sạ nhiệt,
Pháp giới mông huân,
Chư Phật hải hội tất giai văn,
Tùy xứ kiết tường vân,
Thành ý phương ân,
Chư Phật hiện toàn thân.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát (niệm 3 lần).
CHÚ ĐẠI BI
Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần )
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà ra ni
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da
Nam mô a rị da , bà lô kiết đế thước bác ra da , Bồ đề tát đoả bà da , ma ha tát đoả bà da , ma ha ca lô ni ca da , án tát bàn ra phạt duệ số đát na đát toả.
Nam mô tất kiết lật đoả y mông a rị da , bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì hê rị , ma ha bàn đa sa mế , tát bà a tha đâu thâu bằng a thệ dựng , tát bà tát đa , na ma bà dà , ma phạt đạt đậu , đát điệt tha. Án , a bà lô hê , lô ca đế , ca ra đế , di hê rị , ma ha bồ đề tát đoả , tát bà tát bà , ma ra ma ra , ma hê ma hê , rị đà dựng , cu lô cu lô yết mông , độ lô độ lô , phạt xà da đế , ma ha phạt xà da đế , đà ra đà , địa rị ni , thất Phật ra da , dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra , mục đế lệ , y hê di hê , thất na thất na , a ra sâm Phật ra xá lợi , phạt sa phạt sâm , Phật ra xá da , hô lô hô lô ma ra , hô lô hô lô hê rị , ta ra ta ra , tất rị tất rị , tô rô tô rô , bồ đề dạ bồ đề dạ , bồ đà dạ , di đế rị dạ , na ra cẩn trì địa rị sắc ni na , ba dạ ma na ta bà ha . Tất đà dạ ta bà ha . Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà dủ nghệ thước bàng ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì , ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da , ta bà ha. Ta bà ma ha , a tất đà dạ , ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ , ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ , ta bà ha. Na ra cẩn trì bàng già ra dạ , ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ , ta bà ha.
Nam mô hắc ra đát na , đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế , thước bàng ra dạ , ta bà ha.
Án tất điện đô mạn đa ra bạt đà dạ , ta bà ha ( 3 lần ).

KHAI KINH KỆ
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Như Lai chân thực nghĩa.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (Niệm 3 lần)

PHẬT NÓI KINH THIÊN ĐỊA BÁT DƯƠNG
PHẦN THỨ NHỨT
TRONG PHÁP HỘI THÀNH TỰU
Tôi nghe như vầy: Thuở nọ, Phật ở trong một ngôi nhà rộng lớn tại ngoài thành Tỳ Gia Ly Đạt Ma, khai hội thuyết pháp. Có mười phương đàn việt đều theo tới nghe pháp và cả hàng Bồ tát cùng bốn chúng vây quanh đông đủ.

PHẦN THỨ HAI
MỞ BÀY CÁC VIỆC CHÁNH KIẾN
Khi ấy Bồ tát Vô Ngại cũng ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy đi tới trước Phật quì gối chấp tay mà bạch rằng: Ngưỡng bạch Đức Thế Tôn, chúng sanh ở trong cõi Nam Diêm Phù Đề này từ đời vô thủy tới nay cùng nhau sanh đổi qua lại nối tiếp hoài chẳng dứt, nhưng xét thấy trong nhân loại hạng người học thức thì ít, kẻ dốt nát thì nhiều; người tu hành niệm Phật thì ít, hạng mê tín chuyên cầu tà thần thì nhiều; người trì trai giữ giới thì ít, chúng lợi dưỡng phá giới thì nhiều; bực tinh tấn tu hành thì ít, hạng biếng nhác dải đải thì nhiều; người thông minh trí huệ thì ít, kẻ ngu si đần độn thì nhiều; người sống lâu thì ít, kẻ chết yểu thì nhiều; người tịnh tâm thiền định thì ít, kẻ vọng động tán loạn thì nhiều; người giàu sang thì ít, kẻ nghèo hèn thì nhiều; người nho nhã dịu dàng thì ít, kẻ cang cường hung dữ thì nhiều; người chân chánh ngay thẳng thì ít, bọn a dua nịnh bợ thì nhiều; người trong sạch thì ít, kẻ tham lam thì nhiều; người có tâm rộng rải bố thí thì ít, kẻ gian giảo bỏn xẻn thì nhiều; người tín cẩn thành thật thì ít, kẻ giả dối quỉ quyệt thì nhiều. Bởi vậy khiến nên tình đời thấp hèn bạc bẽo, luật pháp khắc nghiệt, sưu cao thuế nặng, trăm họ nghèo khổ, thời kỳ khuẩn bách, làm chẳng đủ sống. Nguyên do chỉ vì mê tín trái ngược, nên mới phải chịu những cảnh khổ dường ấy.
Cúi xin đức Thế Tôn mở lòng từ bi thương xót những kẻ tà kiến, diễn giải các pháp chánh kiến cho chúng nghe, khiến được tỏ ngộ, bỏ tà theo chánh, hầu thoát khỏi các nạn khổ kia. Phật khen: Ông luận như vậy hay lắm!
Này Bồ tát Vô Ngại, ông có tâm đại từ bi nên mới vì các người tà kiến kia mà cầu thỉnh Như Lai nói pháp chánh kiến, thật phước đức ấy không thể kể xiết. Ông nên chú ý nghe cho rõ và ghi nhớ lấy. Tôi nay vì ông mà phân rõ Kinh Thiên Địa Bát Dương này.
Kinh này không phải chỉ riêng tôi nói đâu, mà các đức Phật đời quá khứ đã nói; đời vị lai, chư Phật cũng sẽ nói và đời hiện tại, chư Phật đương nói.
Như trong khoảng trời đất, duy chỉ có con người là cao quí và khôn ngoan hơn muon vật. Luận về chữ Nhân  ấy là chân, vì tâm con người không hề tưởng quấy và tự mình chỉ làm những việc chân chánh. Bởi thế nên mới chiết tự chữ Nhân là người như sau: Nét phẩy bên trái là chân, còn nét mác bên phải là chánh, thường làm những việc chân chánh nên mới được gọi là người. Nên biết người hay mở rộng mối Đạo, còn Đạo khá làm cho con người thuần nhã. Phải giữ đúng theo qui tắc của người và Đạo thìsẽ làm nên đạo Thánh.
Phật lại kêu Vô Ngại Bồ tát mà nói: Thân người khó được mà nay tất cả chúng sanh đã được thân người rồi, sao không chịu tu nhân tích đức mà lại bỏ việc chân chánh, làm điều giả dối, gây biết bao nhiêu nghiệp ác để đến khi thân mạng chết rồi thần hồn phải sa đọa trong biển khổ, đau đớn trăm bề. Bằng hết thảy người đời nghe Kinh này, sanh lòng tin kính làm theo, không hề trái nghịch thì sẽ thoát khỏi hết tai nạn và được ra khỏi biển khổ, vì có các vị thiện thần gia hộ, không có việc chi ngăn trở, mà lại được sống lâu, không bao giờ chết yểu.
Nguyên do nơi tấm lòng tin chân chánh, nên mới được phước như vậy. Còn nếu ai biên chép Kinh này thọ trì đọc tụng, y theo chánh pháp mà tu hành thì công đức của người ấy vô lượng vô biên, không biết đâu mà tính kể cho xiết, đến ngày lâm chung người ấy sẽ chứng được quả Phật.
Phật lại bảo: Này Bồ tát Vô Ngại, như có người nào kiến thức sai lầm thường hay tin bậy, tất nhiên phải bị nạn tà ma ngoại đạo, các loài quỉ ly mị vọng lượng cũng như các loài chim cú chim ụt kêu lên những tiếng quái ác, lại thêm ác quỉ ác thần cùng tranh nhau đến làm náo loạn cả trong nhà, khiến cho xào xáo bệnh hoạn, sưng phù nhức nhối, chịu đủ chứng bệnh đau đớn khổ sở, không ngày giờ nào được yên ổn.
Bằng muốn hết tai nạn kia, cần phải thỉnh vị chân tu đạo đức giúp tụng Kinh này ba biến thì những hung thần ác quỉ ấy thảy đều tiêu diệt mà bệnh cũng khỏi ngay, thân thể lành mạnh, bình phục như xưa. Ấy là nhờ công đức tụng Kinh Bát Dương này mà được chuyển họa thành phước vậy.
Bằng có người nào quá nhiều dâm dục, sân độc, ngu si, tham lam, ganh ghét, nhưng khi nghe thấy Kinh này liền phát tâm chánh tín cúng dường, nguyện tụng ba biến thì các tật xấu kể trên thảy đều biến mất, rồi nhân đó phát tâm từ bi hỷ xả, sau sẽ chứng được quả Phật.
Lại nữa, Bồ tát Vô Ngại, bằng có thiện nam tín nữ nào muốn làm bất cứ công việc chi, trước cần tụng Kinh này ba biến, rồi sau mới làm, như: đắp nền xây tường, dựng nên nhà cửa, hoặc làm nhà phía nam, nhà phía bắc, xưởng bên đông, xưởng bên tây, nhà bếp, nhà khách, cửa ngõ, đào giếng, đóng cối xay, cối giã, làm kho tàng, chuồng trại nuôi các loài súc vật, v.v... Hoặc cất nhằm các phương hướng xung phạm tới Nhựt Du, Nguyệt Sát, Tướng Quân cùng Thái Tuế, Huỳnh Phan, Báo Vĩ, Ngũ Thổ (1), Địa Kỳ, Thanh Long, Bạch Hổ, Châu Tước, Huyền Vũ, hoặc phạm ngày giờ xung khắc như sáu ngày giáp (2), mười hai giờ địa chi (3) cùng là Thổ Úy, Phục Long. Tất cả hung thần ác quỉ cảm thấy oai lực của Kinh nên thảy đều ẩn trốn, lánh xa đi bốn phương, tiêu tan hình bóng, chẳng dám nhiễu hại nữa. Công việc làm được tốt lành, hưởng phước vô lượng.
Nếu có thiện nam tín nữ nào y theo lời Phật dạy mà thi hành thì sau khi xây cất nhà cửa xong rồi, tất nhiên gia đạo được bình an lâu dài, lại thêm giàu sang vinh hiển, chẳng cần nhọc sức mưu cầu mà tự nhiên cũng có của cải đem tới.
Như có người nào đi buôn bán phương xa, hoặc làm quan phó nhậm, cùng tùng quân nhập ngũ mà tụng Kinh Bát Dương này ba biến thì đều được an lành, nhà cửa hưng thạnh, bực người cao sang, con cháu vinh hiển, cha hiền con thảo, trai trung gái trinh, anh nhường em kính, vợ chồng hòa thuận, hết lòng hiếu kính phụng dưỡng song thân, các điều ước nguyện đều được thỏa mãn.
Bằng có người nào bị quan quyền giam giữ, hoặc bị giặc cướp bắt đi, nên để hết tâm thành tụng Kinh này ba biến thì tức khắc tai qua nạn khỏi.
Còn như có người thiện nam tín nữ nào thường thọ trì đọc tụng cùng giúp người biên chép Kinh Bát Dương này thì người ấy dầu rủi sa trong nước lửa cũng khỏi bị chìm đắm thiêu đốt, hoặc ở trong núi rừng có nhiều hùm sói thú dữ, chúng nó thấy bóng người tụng Kinh Bát Dương thì đều lánh xa không bao giờ dám hại đến tánh mạng, vì người ấy có các vị thiện thần theo hộ vệ, chẳng những thế mà sau còn chứng được quả Phật nữa.
Hoặc có người nào miệng lưỡi xảo quyệt hay nói gian dối, thêu dệt, đâm thọc, thô tục, mà người ấy tự biết lỗi chừa bỏ, chuyên đọc tụng Kinh này thì tiêu hết bốn lỗi trước, lại được tài biện thuyết không hề ngăn ngại, rồi sau cũng chứng được quả Phật.
Này các thiện nam tín nữ, phàm cha mẹ có tội, đến ngày lâm chung, chắc phải đọa vào địa ngục chịu trăm phần khổ não, nếu được con cháu thành tâm tụng Kinh này bảy biến thì cha mẹ thoát khỏi khổ ở địa ngục, thần hồn được sanh lên thiên đường, gặp phật nghe pháp, chứng được pháp nhẫn vô sanh trọn nên Phật đạo.
Phật lại kêu Bồ tát Vô Ngại mà nói: Kiếp quá khứ, dưới thời đức Phật Tỳ Bà Thi giáo hóa, có hàng nam nữ cư sĩ không hề tin bọn tà sư ngoại đạo mà chỉ tin theo Phật pháp, ra công biên chép Kinh Bát Dương và thường thọ trì đọc tụng Kinh này, muốn làm việc chi thì cứ làm, không cần bói toán, coi ngày lựa giờ chi cả, cứ giữ một lòng tin chân chánh, lại thường làm việc bố thí, cúng dường bình đẳng, nên mới được thân vô lậu, làm nên đạo Bồ tát, rồi sau chứng được quả Phật, hiệu là Phổ Quang Như Lai, thành bực Chánh Giác, kiếp tên Đại Mãn, nước gọi Vô Biên. Nhân dân trong nước ấy đều có tâm chánh tín, tu hành theo hạnh Bồ tát nên mới được hưởng phước báo tốt đẹp như vậy. Ấy cũng do oai lực trì tụng Kinh Bát Dương này.
Lại nữa Bồ tát Vô Ngại, trong cõi Diêm Phù Đề, chỗ nào có để Kinh Bát Dương này thì đều có tám vị Bồ tát, các vị phạm thiên vương cùng hết thảy thần linh đồng vây xung quanh ủng hộ Kinh ấy. Cho nên người trì tụng Kinh này cần phải sắm sửa hương hoa cúng dường như cúng Phật vậy.
Phật lại kêu Bồ tát Vô Ngại mà nói: Bằng có thiện nam tín nữ nào giúp các người đời, diễn nói Kinh này, giải rõ cho họ hiểu thấu được thực tướng, thông suốt lý cao sâu huyền diệu, thì liền biết được chân lý của tâm mình, tâm Phật và tâm Pháp. Hiểu biết được lý ấy rồi, tức nhiên trí huệ đầy đủ, sáu căn thanh tịnh.
Mắt thường thấy biết bao nhiêu là than sắc, song nhờ trí huệ liền nhận biết các than sắc ấy đều thuộc về lý không thật (giả tạm), mà cái không thật kia tạo nên thân sắc này, cho đến thọ tưởng hành thức cũng đều thuộc về lý không thật. Đó tức là Diệu Sắc Thân Như Lai.
Tai thường nghe biết bao nhiêu là thứ tiếng, song nhờ trí huệ liền nhận biết các thứ tiếng ấy đều thuộc về lý không thật, mà cái không thật kia tạo nên tiếng nói này. Đó tức là Diệu Âm Thinh Như Lai.
Mũi thường ngửi biết bao nhiêu là mùi hương, song nhờ trí huệ liền nhận biết các mùi hương ấy đều thuộc về lý không thật, mà cái không thật kia tạo nên mùi hương này. Đó tức là Hương Tích Như Lai.
Lưỡi thường nếm biết bao nhiêu là mùi vị, song nhờ trí huệ liền nhận biết các mùi vị ấy đều thuộc về lý không thật, mà cái không thật kia tạo nên mùi vị này. Đó tức là Pháp Hỷ Như Lai.
Thân thường cảm thấy biết bao nhiêu là sự đụng chạm êm dịu, song nhờ trí huệ liền nhận biết các sự đụng chạm êm dịu đó đều thuộc về lý không thật, mà cái không thật kia tạo nên sự đụng chạm này. Đó tức là Trí Thắng Như Lai.
Ý con người thường suy nghĩ phân biệt biết bao nhiêu là việc, song nhờ trí huệ liền nhận biết các việc ấy đều thuộc về lý không thật, mà cái không thật kia tạo nên các việc này. Đó tức là Pháp Minh Như Lai.
Bằng có thiện nam tín nữ nào thấy sáu căn đều hiển hiện trong nhân gian. Nếu miệng mình nói những điều lành thì nghiệp lành càng thêm nhiều, rồi sẽ làm nên Phật đạo. Còn miệng nói những điều độc ác thì nghiệp ác càng thêm nhiều, ắt phải đọa vào địa ngục.
Phật bảo Bồ tát Vô Ngại: Về chân lý của việc lành việc ác rất rõ ràng, chẳng nên không tin. Ông nên hiểu thân tâm con người, thật là pháp khí của Phật.
Cũng như 12 bộ Đại Tạng Kinh đã có từ đời vô thủy đến nay mà tụng hoài vẫn không hết và không hề hao tổn chút nào. Kinh tạng của Như Lai duy có những bực thức tâm kiến tánh mới tỏ biết mà thôi, còn các bực thinh văn, phàm phu làm sao hiểu thấu được.
Phật lại bảo Bồ tát Vô Ngại nữa rằng:
Bằng có người nào đọc tụng kinh này mà tỏ ngộ được thực tướng, tức biết thân tâm này chính thật là pháp khí của phật. Còn như người nào say mê đàng dục lạc, không tỉnh giấc mộng hồn, chẳng biết thân tâm mình là căn bổn của Phật pháp, chắc người đó phải trôi nổi trong sáu nẻo luân hồi, đọa đày trong ba đường dữ, đắm chìm liên mien trong biển khổ, không được nghe đến danh từ Phật pháp.
Lúc đó, có năm trăm vị thiên tử ở trong đại chúng nghe Phật thuyết pháp rồi đều chứng được pháp Nhãn Tịnh, rất đổi vui mừng, liền phát nguyện sẽ tu tới quả vị Phật.

PHẦN THỨ BA
GIẢI RÕ CHÁNH ĐẠO VỀ VIỆC SANH TỬ TẨN TÁNG
Bồ tát Vô Ngại lại bạch Phật rằng:
Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, tất cả người đời đều lấy việc sanh tử là quan trọng, nhưng khi sanh chẳng lựa ngày, hễ tới giờ thì sanh; còn khi chết cũng không lựa ngày, hễ tới giờ thì chết, cớ sao việc tẩn liệm an táng lại phải chọn ngày lành giờ tốt rồi mới tẩn liệm an táng? Nhưng sau khi tẩn liệm an táng rồi thì chỉ thấy tai họa đem tới, phần nhiều con cháu thường nghèo hèn khốn khổ, chứ ít thấy giàu sang vinh hiển. Thỉnh cầu đức Thế Tôn mở lượng từ bi thương xót các người mê tối kia, giảng rõ chánh pháp nhân duyên sanh tử do đâu mà có, khiến cho họ được tỉnh ngộ trở về với chánh đạo, không còn làm những việc sai lầm như trước nữa.
Phật nói: Lành thay, tốt thay! Ông thật có lòng thương những người mê tối ấy mà cầu hỏi Như Lai về việc sanh tử cùng phép tẩn táng. Vậy ông hãy chú ý mà nghe, tôi nay vì ông mà nói rõ về chân lý của trí huệ và chánh pháp của đại đạo.
Luận về cái thể trời đất rộng lớn, còn mặt trời mặt trăng vẫn luôn tỏ sáng thì năm tháng ngày giờ đều tốt, không có chi là khác lạ cả.
Này Bồ tát Vô Ngại, xưa kia ông Nhân Vương Bồ tát có tấm lòng từ bi rộng lớn, thương xót người đời không khác nào cha mẹ thương con, nên mới giáng sanh xuống cõi trần làm vị nhân chủ, cũng như cha mẹ nhân dân.
Đó rồi mới thuận theo người đời mà dạy bày ra phong tục, làm lịch để biết tính năm tháng ngày giờ, ban truyền trong thiên hạ, cho biết mỗi năm có bốn mùa tám tiết, rồi còn phân ra những ngày trực bình, trực mãn, trực thành, trực thâu, trực khai, trực trừ, trực chấp, trực nguy, trực phá, trực định, trực bế, trực kiên. Những người ngu tối không biết xét theo chân lý mà dùng, lại nhè tin theo văn tự, nên không tránh được tai họa. Chẳng những thế, lại còn rước bọn tà sư về nhà vẽ bùa yểm trấn, nói năng hoang đàng, bày đặt cúng cầu tà thần, lễ tế ngạ quỉ. Làm như thế chỉ gây thêm tội lỗi, rồi tự mình phải chịu lo phiền khổ não.
Mấy người như vậy chẳng những gây tai họa cho mình mà còn mắc tội trái nghịch chánh lý của trời đất, thành thử không khác nào bỏ ánh sáng của mặt trời mặt trăng mà chui vào chỗ tối, trái hẳn với chánh đạo rộng lớn. Không những thế, lại còn thường kiếm coi kinh sách của tà sư ngoại đạo, đó mới thật là trái ngược vậy.
Phật lại kêu Bồ tát Vô Ngại mà nói: Ông nên khuyên những thiện nam tín nữ là lúc gần sanh, nên tụng Kinh Bát Dương này ba biến thì sẽ sanh được dễ dàng và rất tốt lành, đứa con ấy sẽ được thông minh trí huệ, đầy đủ phước đức, không sợ chết yểu. Còn trong lúc gần chết, cũng nên tụng Kinh Bát Dương này ba biến thì sẽ được tốt lành không có việc chi làm cho tổn hại cả.
Này Bồ tát Vô Ngại, ngày nào cũng tốt, tháng nào cũng tốt, cho đến năm nào cũng đều tốt cả. Chẳng có năm tháng ngày giờ nào mà không tốt. Bởi vậy, hễ lo việc tẩn liệm an táng rồi, nên tức thời tụng Kinh Bát Dương này bảy biến rất là tốt lành, không những vong nhân được hưởng phước rất nhiều mà con cháu cũng được giàu sang sống lâu, đến khi lâm chung đều nên Phật đạo.
Lại nữa Bồ tát Vô Ngại, như chỗ đất mai táng đó, chẳng cần phân Đông Tây Nam Bắc làm gì, thấy cuộc đất ấy được yên ổn, người đời bằng lòng vui thích thì quỉ thần cũng ưng thuận vui thích, nhưng cốt yếu phải tụng Kinh Bát Dương này ba biến rồi sẽ mai táng, xây cất phần mộ, tuyệt nhiên không có tai họa gì cả mà gia đình thân quyến lại giàu sang, thật rất tốt lành.
Khi đó, đức Thế Tôn muốn nhắc lại nghĩa trên, nên mới nói kệ rằng:
Ngày nào tính việc cũng đều tốt,
Giờ nào tẩn táng cũng đều hay,
Sanh tử cần phải tụng kinh này,
Thật rất tốt lành nhiều lợi ích.
Tháng nào cũng là tháng lành hết,
Năm nào cũng là năm tốt cả,
Tụng kinh rồi mới lo tẩn táng,
Muôn đời sung sướng hưởng vinh hoa.
Lúc ấy trong đại chúng có bảy ngàn muon người nghe Phật thuyết pháp xong, thì long dạ mở mang sáng suốt, bỏ tà theo chánh, vì nhờ nghe pháp của Phật dạy mà dứt hẳn lòng nghi hoặc, cùng đều phát tâm rộng lớn, nguyện sẽ tu đến bực Phật.
PHẦN THỨ TƯ
LUẬN VỀ VIỆC CƯỚI GẢ Ở ĐỜI
Lúc bấy giờ, Bồ tát Vô Ngại lại bạch Phật rằng: Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, tất cả người đời đều lấy sự cưới gả làm nghĩa than tình, nhưng trước đó, họ còn so đôi tuổi coi có hợp, rồi mới chọn ngày giờ tốt, làm lễ cưới hỏi, nhưng sau ngày thành hôn, thường nhận thấy vợ chồng ăn ở hòa thuận, giàu sang, sống lâu thì ít; còn gặp cảnh nghèo khổ, sanh ly tử biệt thì nhiều.
Tất cả sự mê tín lựa chọn đó, tại sao kết cuộc lại sai khác như vậy? Ngưỡng cầu đức Thế Tôn dạy rõ về vấn đề đó để chúng tôi được hết sự nghi ngờ.
Phật nói: Các ông hãy chú ý nghe cho rõ lời ta giải đây. Luận trong trời đất về âm dương cần phải tương đối. Như mặt trời hợp khí âm, mặt trăng hợp khí dương, nước hợp âm, lửa hợp dương, trai hợp âm, gái hợp dương (4). Ấy là khí trời đất hòa hợp, nên hết thảy cỏ cây đều nương theo khí âm dương mà sanh sôi nẩy nở. Mặt trời mặt trăng xây vần thuận theo bốn mùa tám tiết, mưa nắng điều hòa, tất cả muôn loài mới tồn tại. Trai gái hòa hợp mới sanh sản ra con cháu. Đó là lẽ thường của trời đất, cũng là lý tự nhiên và cũng là vấn đề cần thiết ở đời vậy.
Này Bồ tát Vô Ngại, những hạng người thiếu học mê tối chẳng biết phân biệt tà chánh, nên tin theo thầy tà bày đặt bói toán để cầu sự tốt lành mà họ lại không chịu làm những việc lành, chỉ cứ gây ra toàn nghiệp ác! Chẳng những khi sanh tiền bị tai họa liên miên mà tới khi mạng chung, họ ít tránh khỏi sa đọa vào ba đường dữ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Trong bọn họ, nếu ai được trở lại làm người thì rất ít, ít như chút đất dính nơi đầu móng tay; còn những người bị sa đọa vào ba đường dữ thì rất nhiều, nhiều như đất nơi đại địa vậy.
Lại nữa, Bồ tát Vô Ngại, những người được trở lại làm người tin theo chánh pháp tu hành chỉ có một số ít, ít như chút đất dính nơi đầu móng tay; còn hạng người mê tín, chuyên gây nghiệp ác thì lại rất nhiều, nhiều như đất nơi đại địa vậy.
Này Bồ tát Vô Ngại, nếu người đời muốn kết hôn nhơn, chẳng cần phải coi mạng thủy mạng hỏa khắc nhau hay bào thai niên mạng chẳng hợp làm chi, duy chỉ cần coi trong bộ sách Lộc Mạng (5) để biết rõ phước đức của đôi bên nhiều ít, rồi nương theo đó mà kết làm quyến thuộc, song đến ngày cưới, phải tụng kinh này ba biến rồi mới thành thân thì mọi việc đều tốt lành cả, nào cửa cao nhà rộng, hưởng cảnh giàu sang.
Còn con cháu đều làm nên danh phận, thông minh sang suốt lại thêm tài năng tột chúng, biết ăn ở hiếu thuận kính nhường, thật rất tốt đẹp, không hề có nạn thương vong yểu tử, phước đức đầy đủ. Tất cả về sau đều thành Phật đạo.
Khi ấy có tám vị Bồ tát nương nhờ oai thần của Phật mà chứng được phép Đại Tổng Trì (6) đều phát nguyện thường ở trong thế gian đồng sanh chung lộn với người đời, đem hết tài năng phá bọn tà giáo để lập lại nền chánh đạo, hầu cứu độ tất cả bốn loài (7) tu tới bực giải thoát.
Danh hiệu tám vị Bồ tát kể ra như sau:
1) Bạt Đà Bà La Bồ tát lậu tận hòa. (8)
2) La Lân Na Kiệt Bồ tát lậu tận hòa.
3) Kiều Việt Đẩu Bồ tát lậu tận hòa.
4) Na La Diên Bồ tát lậu tận hòa.
5) Tu Di Thâm Bồ tát lậu tận hòa.
6) Nhâm Kỳ Đạt Bồ tát lậu tận hòa.
7) Hòa Luân Điều Bồ tát lậu tận hòa.
8) Vô Duyên Quan Bồ tát lậu tận hòa.
Lúc đó, tám vị Bồ tát đều bạch Phật rằng: Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, chúng tôi nhân trước kia nhờ được chư Phật truyền dạy cho phép thần chú đà la ni, nay chúng tôi định đọc thần chú ấy để ủng hộ những người thọ trì đọc tụng Kinh Bát Dương, tuyệt nhiên không có chi lo sợ. Vì thần lực của chú ấy khiến cho hết thảy những loài hung dữ không dám thương tổn đến những vị nào tụng kinh này.
Ngay lúc ấy, tám vị Bồ tát đồng ra đứng trước Phật mà tụng chú rằng:
A dà ni, a dà ni, a tỳ la, mạn lệ, mạn đa lệ, xà lê.
Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, bằng có kẻ hung dữ nào muốn đến làm phiền vị đang tụng Kinh Bát Dương, hễ nghe chúng tôi đọc thần chú này, tức thì đầu kẻ ấy sẽ bể ra làm bảy mảnh như nhánh cây A lê vậy.
PHẦN THỨ NĂM
CHỈ RÕ VỀ TÊN KINH
Lúc bấy giờ, Bồ tát Vô Biên Thân liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi tới trước Phật, quỳ gối chấp tay mà bạch rằng: Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, duyên cớ nào tên Kinh lại kêu là Bát Dương? Thỉnh cầu đức Thế Tôn giải rõ cho chúng tôi được hiểu nghĩa lý, khiến cho tất cả được tỏ ngộ bổn tâm, thấu rõ tri kiến của Phật, hầu đoạn trừ hết lòng nghi hoặc.
Phật bảo Bồ tát Vô Biên Thân rằng: Lành thay lời ông vừa hỏi! Các ông hãy lóng nghe cho rõ, nay tôi sẽ vì đại chúng mà giải rõ nghĩa lý Kinh Bát Dương này.
Chữ BÁT có nghĩa là phân chia rành rẽ. Còn chữ DƯƠNG thì có nghĩa là giải rõ cái lý đại thừa thành phật. Hiểu thấu được lý ấy thì mới hay phân rành được nhân duyên của tám thức, không có chỗ nào là không thấu hiểu.
Phật lại nói: Dùng tám thức ấy làm bề ngang, còn chữ Dương Minh làm bề dọc. Ngang dọc phù hợp với nhau tức thành bộ kinh giáo, cho nên mới kêu là Kinh Bát Dương.
Tám thức ấy là:
1) Con mắt thấy liền nhận biết sắc tốt hay xấu.
2) Lỗ tai nghe liền nhận biết tiếng lành hay dữ.
3) Lỗ mũi ngửi liền nhận biết mùi thơm hay hôi.
4) Cuống lưỡi nếm liền nhận biết vị mặn hay lạt.
5) Cái thân đụng tới vật gì liền nhận biếtvật ấy mềm hay cứng.
6) Cái ý biết phân biệt tất cả mọi thứ.
7) Cái thức Hàm tàng chứa đầy đủ các thứ hột giống.
8) Còn thức A lại da thì bao trùm hết thảy.
Như vậy là phân chia rành rẽ cội gốc của tám thức, có chi đâu mà không thấu hiểu. Phải biết hai con mắt thật là Quang Minh Thiên, mà trong Quang Minh Thiên đó, liền hiện ra đức Nhựt Nguyệt Quang Minh Thế Tôn. Hai lỗ tai thật là Thinh Văn Thiên, mà trong Thinh Văn Thiên đó, liền hiện ra đức Vô Lượng Thinh Như Lai.
Hai lỗ mũi thật là Phật Hương Thiên, mà trong Phật Hương Thiên đó, liền hiện ra đức Hương Tích Như Lai. Cái cuống lưỡi thật là Pháp Vị Thiên, mà trong Pháp Vị Thiên đó, liền hiện ra đức Pháp Hỷ Như Lai.
Cái thân thật là Tỳ Lư Giá Na Thiên, mà trong Tỳ Lư Giá Na Thiên đó, liền hiện ra đức Thành Tựu Tỳ Lư Giá Na Phật. Người nào tự thấy trong tâm mình có Cảnh Tượng Phật thì liền hiện ra đức Phật Tỳ Lư Giá Na Quang Minh.
Cái ý thật là Vô Phân Biệt Thiên, mà trong Vô Phân Biệt Thiên đó, liền hiện ra đức Bất Động Như Lai. Cái tâm thật là Pháp Giới Thiên, mà trong Pháp Giới Thiên đó, liền hiện ra đức Không Vương Như Lai.
Cái thức Hàm tàng thật là Thức Thiên nên mới diễn nói ra Kinh A Hàm và bộ Kinh Đại Bát Nhã Niết Bàn. Còn cái thức A lại da thật là rộng lớn nên mới diễn nói ra bộ Kinh Đại Trí Độ luận và bộ Kinh Lăng Già luận.
Này Bồ tát Vô Biên Thân, ông nên hiểu: Phật tức là Pháp, mà Pháp cũng tức là Phật, hiệp lại làm một thể tướng liền hiện ra đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai.
Trong khi Phật nói Kinh Bát Dương này thì hết thảy núi sông đất bằng cùng sáu phương đều chuyển động và lại có ánh sang rực rỡ chiếu khắp trời đất lồng lộng mênh mông không thể kể xiết, tất cả những chỗ tối tăm đều đồng loạt tỏ sáng, cho đến tất cả địa ngục cũng đều tiêu mất, tất cả tội nhân đều được thoát khổ.
Khi ấy trong đại chúng, có tám muôn tám ngàn vị bồ tát đồng thời chứng quả Phật và cùng chung một hiệu là Không Vương Như Lai, kiếp kêu Ly Cấu.
Còn một vị Phật xuất thế độ đời bấy giờ tên hiệu là Vô Biên. Hết thảy nhân dân trong kiếp đó đều được quả vị Bồ tát. Vì những người ấy đồng cương quyết tu theo sáu pháp ba la mật, không có lòng phân chia ghen ghét, nên chứng được bực Vô Tranh Tam Muội (chánh định).
Có sáu muôn sáu ngàn vị tỳ khưu, tỳ khưu ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ đều chứng được pháp Đại tổng trì, nên hiểu thấu được lý nhứt thừa của Phật.
Cũng trong hội đó, có vô số hàng trời, rồng, quỉ dạ xoa, thần càn thát bà, thần a tu la, thần ca hầu la, thần khẩn na la, thần ma hầu la dà cùng hàng người và hạng không phải người đều chứng được pháp Nhãn Tịnh, dốc lòng tu hạnh Bồ tát.
PHẦN THỨ SÁU
LỜI PHÚ CHÚC
Phật kêu Bồ tát Vô Biên Thân mà nói: Bằng có người nào được làm quan thăng chức, cùng ngày dọn về ở nhà mới, phải trai giới thiết lễ tụng kinh này ba biến thì được lợi lộc rất lớn vì có các vị thiện thần theo ủng hộ, nên nội gia quyến đều được khương ninh trường thọ, phước đức đầy đủ.
Này Bồ tát Vô Biên Thân! Bằng có thiện nam tín nữ nào phát tâm tụng kinh này một biến thì cũng được phước như tụng hết thảy các bộ kinh một biến. Còn như biên chép kinh này một quyển thì công đức cũng bằng biên chép hết thảy các bộ kinh khác. Kể về công đức thì rất rộng lớn như cõi hư không, chẳng biết đâu là bờ bến mà đo lường được, rồi sau đó, các người ấy cũng đều được thành quả Phật.
Phật lại bảo Bồ tát Vô Biên Thân: Bằng trong chúng sanh, có người nào không tin chánh pháp của Phật, chấp tâm tà kiến, vừa nghe Kinh Bát Dương này đã buông lời phỉ báng, bảo kinh ấy không phải Phật nói.
Người ấy trong lúc sanh tiền phải mang bệnh cùi, lở lói đầy người, máu mủ cùng khắp, dơ bẩn tanh hôi, ai trông thấy cũng nhờm gớm.
Chẳng những thế mà bệnh còn hành cho tới ngày chết, rồi thần hồn phải đọa ngay vào Vô gián địa ngục. Cái ngục này quanh năm suốt tháng bốn bề đều có lửa cháy đỏ rực, trên táp xuống, dưới bốc lên, nóng như thiêu đốt. Lại còn bị quỉ sứ hành hình, lấy giáo nhọn đinh ba đâm nát thân thể, còn cho uống nước đồng sôi làm cho gân xương đều tan nát rã rời. Vì nghiệp báo chưa hết, nên lại được hoàn hình để chịu hành tội, một ngày một đêm chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần. Cứ đành phải chịu cực hình đau khổ như thế, không có giây phút nào ngừng.
Vì bọn đó không tin chánh pháp, phỉ bang chân kinh, nên mới bị quả báo như vậy!
Phật vì những người mắc tội đó, nên mới nói bài kệ này:
Thân này vốn tự nhiên mà có,
Năm vóc cũng tự nhiên đầy đủ,
Thân lớn cứ tự nhiên lớn lên,
Còn già vẫn tự nhiên già lần.
Sanh ắt tự nhiên phải sanh ra,
Chết hẳn tự nhiên phải chết mà,
Muốn cầu sống lâu cũng không được,
Mà mong chết sớm cũng không xong.
Sự khổ sự vui do mình tạo,
Điều tà điều chánh tự mình theo,
Định muốn khởi làm công việc chi,
Chí thành tụng kinh chẳng coi bói.
Ngàn đời muôn kiếp gieo giống lành,
Chứng đạo bồ đề chuyển pháp luân.

PHẦN THỨ BẢY
CHỨNG NGỘ LÝ NHIỆM MẦU
Khi Phật nói kinh này rồi, tất cả đại chúng đều khen xưa nay chưa từng được nghe pháp này. Nay Phật nói cho nghe pháp huyền diệu, nên tâm trí được mở mang trong sáng, vui mừng hớn hở đều hiện bày ra sắc tướng Phật mà chẳng phải tướng Phật vì là không chấp tướng. Thấu được chỗ tri kiến của Phật và tỏ ngộ chỗ tri kiến của Phật mà không chấp sự thấu hiểu và tỏ ngộ đó, và cũng không chấp một pháp nào cả. Như thế mới hiểu được cái vui của cõi niết bàn.
Khi ấy đức Thế Tôn muốn nhắc lại những lời mầu nhiệm trên, nên nói bài kệ này:
Thân tướng tốt, sáu căn trọn đủ,
Muôn ức người lành đã được sanh,
Hăng hái chuyên làm hạnh bố thí,
Làm người chẳng xẻn cũng không tham.
Phụ nữ được nghe pháp này rồi,
Phát tâm hớn hở rất vui mừng,
Ngày sau thoát khỏi thân phụ nữ,
Tái sanh ắt được làm nam tử.
Các thứ đao binh chẳng hại đặng,
Độc trùng thú dữ cũng lánh xa,
Quan quyền cho chí phường giặc cướp,
Muốn hại người đó cũng không xong.
Người đời trông thấy đều kính mến,
Trăm ngàn tai nạn đều tiêu hết,
Trước sau rốt ráo chẳng bị hại,
Trai gái ai ai tụng Kinh này,
Thì được phước đức như trên nói.
PHẦN THỨ TÁM
PHỤNG HÀNH THỦ HỘ
Khi bấy giờ, các vị Bồ tát cùng Bồ tát Di Lặc và bốn vị Đại thiên vương đồng bạch Phật rằng: Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, chúng tôi cùng nhau phát nguyện ủng hộ Kinh Bát Dương thần chú và xin gắng sức cứu giúp bảo hộ những người nào chí thành tụng kinh này, dầu có mắc bệnh tật chi đi nữa, cũng khiến cho được lành mạnh hết. Rồi đó, các vị Bồ tát cùng ông Xá Lợi Phất và các vị tỳ khưu, tỳ khưu ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, hiệp với hàng trời, rồng, quỉ, thần, a tu la, và chuyển luân thánh vương đồng vui mừng đứng lên đảnh lễ Phật và nguyện để hết lòng tin làm theo chánh pháp của Phật đã dạy.

NGỢI KHEN KINH BÁT DƯƠNG
Kinh Bát Dương thật đạo chân chánh,
Ba đời chư phật nói rõ ràng,
Tám vị Bồ tát đồng tâm giúp,
Chư vị thần linh cũng vây quanh.
Đời trước tu, phát huệ thành Phật,
Đời này ai nghe đều tỏ ngộ,
Muốn làm việc chi tụng kinh này,
Đã là người lành không chết yểu.
Tôi nay nguyện độ khắp các loài,
Cầu nguyện điều chi đều thỏa mãn.
Từ trước tới nay bị võng thức,
Nên có thân rồi chịu gian nan,
Bốn đại, tham sân si thiêu đốt,
Sáu căn, mười triền sử buộc ràng.
Ầm ầm gió nghiệp thổi ép tới,
Núi vô minh chận trước lờ mờ,
Đắm mê dục lạc hồn chơi vơi,
Lửa tham sân đột nhiên lừng cháy,
Nghĩ nhớ ân ái biển sanh tử,
Lai láng đắm chìm dưới sóng tình,
Như rùa mù kiếm bọng cây trôi,
Như hột cải gieo khó trúng kim,
Phật ở trong thân đâu Phật khác,
Thánh hiền lập giáo sửa tâm người.
MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệt phục như thị.
Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thinh hương vị xúc pháp. Vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố, bồ đề tát đỏa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh niết bàn. Tam thế chư phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chân thực bất hư.
Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.” (Câu chót tụng 3 lần)
ĐẢNH LỄ CHƯ PHẬT
(Mỗi danh hiệu, một tiếng chuông, một lạy)
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ tát.
Nam mô Vô Ngại Bồ tát.
Nam mô Phổ Quang Như Lai.
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai.
Nam mô Diệu Âm Thinh Như Lai.
Nam mô Hương Tích Như Lai.
Nam mô Pháp Hỷ Như Lai.
Nam mô Trí Thắng Như Lai.
Nam mô Pháp Minh Như Lai.
Nam mô Nhân Vương Bồ tát.
Nam mô Bạt Đà Bà La Bồ tát.
Nam mô La Lân Na Kiệt Bồ tát.
Nam mô Kiều Việt Đẩu Bồ tát.
Nam mô Na La Diên Bồ tát.
Nam mô Tu Di Thâm Bồ tát.
Nam mô Hòa Luân Điều Bồ tát.
Nam mô Vô Duyên Quan Bồ tát.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát.
Nam mô Nhựt Nguyệt Quang Minh Thế Tôn.
Nam mô Vô Lượng Thinh Như Lai.
Nam mô Thành Tựu Tỳ Lư Giá Na Phật.
Nam mô Cảnh Tượng Phật.
Nam mô Lư Xá Na Quang Minh Phật.
Nam mô Đại Thông Trí Thắng Như Lai.
Nam mô Bất Động Như Lai.
Nam mô Không Vương Như Lai.
Nam mô Vô Biên Như Lai.
Nam mô Di Lặc Bồ tát.
Nam mô Xá Lợi Phất Bồ tát.
NGỢI KHEN
Kinh Bát Dương bí mật,
Pháp mầu nhiệm khó lường.
Bực tam thừa tỏ thấu chứng thành phật,
Sáu trí đều trọn thấu rõ ràng,
Muôn đức thật trang nghiêm.
Chư phật đồng giáng chốn đạo tràng.
Nam mô Vô Ngại Bồ tát. (Niệm 3 lần)

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC
Phúng kinh công đức thù thắng hạnh,
Vô biên thắng phước giai hồi hướng,
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh,
Tốc vãng Vô lượng quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não,
Nguyện đắc trí huệ, chơn minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ,
Thế thế thường hành Bồ tát đạo.
Nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trung,
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu,
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất thối Bồ tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
Ngã đẳng dữ chúng sanh,
Giai cộng thành Phật đạo.
TAM QUI
Tự qui y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải Đại Đạo, phát vô thượng tâm. (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)
Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải. (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)
Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại. (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)
C H U N G
Chú thích:
(1) Ngũ thổ là Thổ phủ, Thổ ôn, Thổ cấm, Thổ phù, Thổ tinh.
(2) Lục giáp là Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn, Giáp Ngọ, Giáp Thân, Giáp Tuất.
(3) 12 chi là Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
(4) Âm là cung Ly, dương là cung Khảm.
(5) Sách Lộc Mạng là bộ Tam Hội Thông Mạng, bộ Tam Thế Diễn Cầm, và bộ Tử Vi Đẩu Số, trọn pho ba bộ.
(6) Tổng trì là thần chú hay còn gọi là đà la ni.
(7) Bốn loài là loài có thai, loài đẻ trứng, loài dưới nước, loài hóa sanh.
(8) Lậu tận hòa là các vị Bồ tát ở cõi trên xuống cõi trần để tế độ người đời. Tuy ở cõi trần mà tâm không nhiễm trần nên gọi là lậu tận hòa.