KINH THIÊN ĐỊA BÁT DƯƠNG
佛說天地八陽神呪經
(2897)
Đường
Tam Tạng Pháp Sư Nghĩa Tịnh phụng chiếu dịch
HT Thích Hải Tràng dịch Âm
HT Thích Hải Tràng dịch Âm
Cư
Sĩ Thanh Tâm
dịch nghĩa
BÁT DƯƠNG TÁN KỆ
Bát Dương kinh chú lý huyền thâm
Cứu khổ trừ tai hữu sự tầm
Y
pháp tu hành chung giải thoát
Công thành quả mãn diệc do tâm.
Hòa Thượng Thích Hải Tràng đề tặng
CHỈ DẪN VỀ NHỮNG
LỜI NGUYỆN
Chỉ dẫn đại khái về lời nguyện cho mỗi việc bằng
tiếng Việt cho dễ hiểu mới thêm
lòng tin tưởng. Đoạn nguyện này chung cho cả bốn
việc điển hình sau đây:
Cúi mong Phật Tổ chứng minh, oai thần hộ niệm. Chúng
con (họ, tên, và pháp danh )
tuân theo giáo pháp của Phật, thành tâm trai giới,
sửa lễ cúng dường, nguyện tụng Đại Thừa Pháp Bảo
Thiên Địa Bát Dương Chân Kinh ba biến để cầu:
(Về việc xây cất nhà cửa)
Cho ngôi nhà đương sắp xây cất sẽ được hoàn thành
tốt đẹp, lâu năm bền vững và sau khi đã dọn về ở,
gia đạo sẽ được yên vui, làm ăn thạnh vượng, con
cháu mạnh giỏi, đầy đủ phúc đức.
(Về việc hôn nhân)
Cho việc hôn nhân của đôi trẻ (tên họ người chồng và
người vợ) nhờ ơn chư phật và chư bồ tát gia hộ, sau
khi thành hôn sẽ được chồng hòa vợ thuận, trăm năm
hạnh phúc, con cháu hiếu thảo, thông minh sáng suốt,
hưởng cảnh gia đình đầm ấm vui tươi.
(Về việc cầu an cho bệnh nhân)
Cho bệnh nhân (tên họ người bệnh) sẽ được nhờ ơn chư
phật và chư bồ tát gia hộ, khu tà trục quỉ, khiến
cho bệnh căn thuyên giảm, thuốc thang điều trị mau
được bình phục.
(Về việc tẩn liệm an táng)
Cho hương linh (họ tên người chết) vừa mới từ trần
ngày... tháng... năm..., mong nhờ oai thần phật lực
che chở, sẽ được yên vui trong cõi hư vô, không bị
hung thần ác quỉ
nhiểu phạm, còn thân quyến ở trên trần thế này cũng
sẽ được bình an khương thới, không chi tổn hại. Còn
các việc khác, tùy theo sự quan trọng của từng việc
mà phát nguyện, đại khái như đã chỉ ở trên.
NGHI
THỨC TỤNG KINH
Trước thời tụng kinh, cần phải rửa mặt, súc miệng
sạch sẽ, mặc áo tràng đàng
hoàng, tới trước bàn Phật, đốt ba cây hương, xong
đứng ngay ngắn trước bàn Phật, tay mặt cầm hương,
tay trái cầm dùi chuông, thỉnh ba tiếng chuông, kế
hai tay giao lại cầm hương đưa lên ngang trán, đầu
hơi cúi, để hết tâm thành tưởng Phật, miệng đọc:
HIẾN HƯƠNG KỆ
Giới hương, định hương, dữ huệ hương,
Giải thoát, giải thoát tri kiến hương,
Quang minh vân đài biến pháp giới,
Cúng dường thập phương Tam bảo tiền.
Nam mô Hương cúng dường Bồ tát ma ha tát. (niệm
3 lần)
TÁN PHẬT VÀ LỄ PHẬT
Pháp vương vô thượng tôn,
Tam giới vô luân thất,
Thiên nhân chi đạo sư,
Tứ
sanh chi từ phụ,
Ư
nhứt niệm qui y,
Năng diệt tam kỳ nghiệp,
Xưng dương nhược tán thán,
Ức
kiếp mạc năng tận,
Năng lễ sở lễ tánh không tịch,
Cảm ứng đạo giao nan tư nghị,
Ngã thử đạo tràng như đế châu,
Thập phương chư phật ảnh hiện trung,
Ngã thân ảnh hiện chư phật tiền,
Đầu diện tiếp túc qui mạng lễ:
Nhứt tâm đảnh lễ: tận hư không, biến pháp giới, quá,
hiện, vị lai, thập phương chư phật, tôn pháp, hiền
thánh tăng thường trú tam bảo. (Đánh một tiếng
chuông và lạy một lạy).
Nhứt tâm đảnh lễ: Ta Bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật, Long Hoa Giáo Chủ Di Lặc Tôn
Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Đại Hạnh Phổ
Hiền
Bồ
tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ tát, Linh Sơn Hội Thượng
Phật Bồ tát. (Đánh một tiếng chuông và lạy một
lạy).
Nhứt tâm đảnh lễ: Tây Phương Cực Lạc Giáo Chủ Đại Từ
Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế
Âm Bồ tát, Đại Lực Đại Thế Chí Bồ tát, Đại Nguyện
Địa Tạng Vương Bồ tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ
tát. (Đánh một tiếng chuông và lạy một lạy).
(Đảnh lễ xong,
quì xuống phát nguyện tùy theo từng việc cho minh
bạch)
TÁN LƯ HƯƠNG
Lư
hương sạ nhiệt,
Pháp giới mông huân,
Chư Phật hải hội tất giai văn,
Tùy xứ kiết tường vân,
Thành ý phương ân,
Chư Phật hiện toàn thân.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát (niệm 3 lần).
CHÚ ĐẠI BI
Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ
Tát ( 3 lần )
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại
bi tâm đà ra ni
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da
Nam mô a rị da , bà lô kiết đế thước bác ra da , Bồ đề tát đoả bà da , ma ha tát đoả bà da , ma ha ca lô ni ca da , án tát bàn ra phạt duệ số đát na đát toả.
Nam mô tất kiết lật đoả y mông a rị da , bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì hê rị , ma ha bàn đa sa mế , tát bà a tha đâu thâu bằng a thệ dựng , tát bà tát đa , na ma bà dà , ma phạt đạt đậu , đát điệt tha. Án , a bà lô hê , lô ca đế , ca ra đế , di hê rị , ma ha bồ đề tát đoả , tát bà tát bà , ma ra ma ra , ma hê ma hê , rị đà dựng , cu lô cu lô yết mông , độ lô độ lô , phạt xà da đế , ma ha phạt xà da đế , đà ra đà , địa rị ni , thất Phật ra da , dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra , mục đế lệ , y hê di hê , thất na thất na , a ra sâm Phật ra xá lợi , phạt sa phạt sâm , Phật ra xá da , hô lô hô lô ma ra , hô lô hô lô hê rị , ta ra ta ra , tất rị tất rị , tô rô tô rô , bồ đề dạ bồ đề dạ , bồ đà dạ , di đế rị dạ , na ra cẩn trì địa rị sắc ni na , ba dạ ma na ta bà ha . Tất đà dạ ta bà ha . Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà dủ nghệ thước bàng ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì , ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da , ta bà ha. Ta bà ma ha , a tất đà dạ , ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ , ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ , ta bà ha. Na ra cẩn trì bàng già ra dạ , ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ , ta bà ha.
Nam mô hắc ra đát na , đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế , thước bàng ra dạ , ta bà ha.
Án tất điện đô mạn đa ra bạt đà dạ , ta bà ha ( 3 lần ).
KHAI KINH KỆ
Vô
thượng thậm thâm vi diệu pháp,
Bá
thiên vạn kiếp nan tao ngộ,
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Như Lai chân thực nghĩa.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
(Niệm 3
lần)
PHẬT NÓI KINH THIÊN
ĐỊA BÁT DƯƠNG
PHẦN THỨ NHỨT
TRONG PHÁP HỘI THÀNH TỰU
Tôi nghe như vầy: Thuở nọ, Phật ở trong một ngôi nhà
rộng lớn tại ngoài thành Tỳ Gia Ly Đạt Ma, khai hội
thuyết pháp. Có mười phương đàn việt đều theo tới
nghe pháp và cả hàng Bồ tát cùng bốn chúng vây quanh
đông đủ.
PHẦN THỨ HAI
MỞ BÀY CÁC VIỆC CHÁNH KIẾN
Khi ấy Bồ tát Vô Ngại cũng ở trong đại chúng từ chỗ
ngồi đứng dậy đi tới trước Phật quì gối chấp tay mà
bạch rằng: Ngưỡng bạch Đức Thế Tôn, chúng sanh ở
trong cõi Nam Diêm Phù Đề này từ đời vô thủy tới nay
cùng nhau sanh đổi qua lại nối tiếp hoài chẳng dứt,
nhưng xét thấy trong nhân loại hạng người học thức
thì ít, kẻ dốt nát thì nhiều; người tu hành niệm
Phật thì ít, hạng mê tín chuyên cầu tà thần thì
nhiều; người trì trai giữ giới thì ít, chúng lợi
dưỡng phá giới thì nhiều; bực tinh tấn tu hành thì
ít, hạng biếng nhác dải đải thì nhiều; người thông
minh trí huệ thì ít, kẻ ngu si đần độn thì nhiều;
người sống lâu thì ít, kẻ chết yểu thì nhiều; người
tịnh tâm thiền định thì ít, kẻ vọng động tán loạn
thì nhiều; người giàu sang thì ít, kẻ nghèo hèn thì
nhiều; người nho nhã dịu dàng thì ít, kẻ cang cường
hung dữ thì nhiều; người chân chánh ngay thẳng thì
ít, bọn a dua nịnh bợ thì nhiều; người trong sạch
thì ít, kẻ tham lam thì nhiều; người có tâm rộng rải
bố thí thì ít, kẻ gian giảo bỏn xẻn thì nhiều; người
tín cẩn thành thật thì ít, kẻ giả dối quỉ quyệt thì
nhiều. Bởi vậy khiến nên tình đời thấp hèn bạc bẽo,
luật pháp khắc nghiệt, sưu cao thuế nặng, trăm họ
nghèo khổ, thời kỳ khuẩn bách, làm chẳng đủ sống.
Nguyên do chỉ vì mê tín trái ngược, nên mới phải
chịu những cảnh khổ dường ấy.
Cúi xin đức Thế Tôn mở lòng từ bi thương xót những
kẻ tà kiến, diễn giải các pháp chánh kiến cho chúng
nghe, khiến được tỏ ngộ, bỏ tà theo chánh, hầu thoát
khỏi các nạn khổ kia. Phật khen: Ông luận như vậy
hay lắm!
Này Bồ tát Vô Ngại, ông có tâm đại từ bi nên mới vì
các người tà kiến kia mà cầu thỉnh Như Lai nói pháp
chánh kiến, thật phước đức ấy không thể kể xiết. Ông
nên chú ý nghe cho rõ và ghi nhớ lấy. Tôi nay vì ông
mà phân rõ Kinh Thiên Địa Bát Dương này.
Kinh này không phải chỉ riêng tôi nói đâu, mà các
đức Phật đời quá khứ đã nói; đời vị lai, chư Phật
cũng sẽ nói và đời hiện tại, chư Phật đương nói.
Như trong khoảng trời đất, duy chỉ có con người là
cao quí và khôn ngoan hơn muon vật. Luận về chữ Nhân
ấy là chân, vì tâm con người không hề tưởng quấy và
tự mình chỉ làm những việc chân chánh. Bởi thế nên
mới chiết tự chữ Nhân là người như sau: Nét phẩy bên
trái là chân, còn nét mác bên phải là chánh, thường
làm những việc chân chánh nên mới được gọi là người.
Nên biết người hay mở rộng mối Đạo, còn Đạo khá làm
cho con người thuần nhã. Phải giữ đúng theo qui tắc
của người và Đạo thìsẽ làm nên đạo Thánh.
Phật lại kêu Vô Ngại Bồ tát mà nói: Thân người khó
được mà nay tất cả chúng sanh đã được thân người rồi,
sao không chịu tu nhân tích đức mà lại bỏ việc chân
chánh, làm điều giả dối, gây biết bao nhiêu nghiệp
ác để đến khi thân mạng chết rồi thần hồn phải sa
đọa trong biển khổ, đau đớn trăm bề. Bằng hết thảy
người đời nghe Kinh này, sanh lòng tin kính làm theo,
không hề trái nghịch thì sẽ thoát khỏi hết tai nạn
và được ra khỏi biển khổ, vì có các vị thiện thần
gia hộ, không có việc chi ngăn trở, mà lại được sống
lâu, không bao giờ chết yểu.
Nguyên do nơi tấm lòng tin chân chánh, nên mới được
phước như vậy. Còn nếu ai biên chép Kinh này thọ trì
đọc tụng, y theo chánh pháp mà tu hành thì công đức
của người ấy vô lượng vô biên, không biết đâu mà
tính kể cho xiết, đến ngày lâm chung người ấy sẽ
chứng được quả Phật.
Phật lại bảo: Này Bồ tát Vô Ngại, như có người nào
kiến thức sai lầm thường hay tin
bậy, tất nhiên phải bị nạn tà ma ngoại đạo, các loài
quỉ ly mị vọng lượng cũng như các loài chim cú chim
ụt kêu lên những tiếng quái ác, lại thêm ác quỉ ác
thần cùng tranh nhau đến làm náo loạn cả trong nhà,
khiến cho xào xáo bệnh hoạn, sưng phù nhức nhối,
chịu đủ chứng bệnh đau đớn khổ sở, không ngày giờ
nào được yên ổn.
Bằng muốn hết tai nạn kia, cần phải thỉnh vị chân tu
đạo đức giúp tụng Kinh này ba biến thì những hung
thần ác quỉ ấy thảy đều tiêu diệt mà bệnh cũng khỏi
ngay, thân thể lành mạnh, bình phục như xưa. Ấy là
nhờ công đức tụng Kinh Bát Dương này mà được chuyển
họa thành phước vậy.
Bằng có người nào quá nhiều dâm dục, sân độc, ngu
si, tham lam, ganh ghét, nhưng
khi nghe thấy Kinh này liền phát tâm chánh tín cúng
dường, nguyện tụng ba biến thì các tật xấu kể trên
thảy đều biến mất, rồi nhân đó phát tâm từ bi hỷ xả,
sau sẽ chứng được quả Phật.
Lại nữa, Bồ tát Vô Ngại, bằng có thiện nam tín nữ
nào muốn làm bất cứ công việc chi, trước cần tụng
Kinh này ba biến, rồi sau mới làm, như: đắp nền xây
tường, dựng nên nhà cửa, hoặc làm nhà phía nam, nhà
phía bắc, xưởng bên đông, xưởng bên tây, nhà bếp,
nhà khách, cửa ngõ, đào giếng, đóng cối xay, cối giã,
làm kho tàng, chuồng trại nuôi các loài súc vật, v.v...
Hoặc cất nhằm các phương hướng xung phạm tới Nhựt
Du, Nguyệt Sát, Tướng Quân cùng Thái Tuế, Huỳnh Phan,
Báo Vĩ, Ngũ Thổ (1), Địa Kỳ, Thanh Long, Bạch Hổ,
Châu Tước, Huyền Vũ, hoặc phạm ngày giờ xung khắc
như sáu ngày giáp (2), mười hai giờ địa chi (3) cùng
là Thổ Úy, Phục Long. Tất cả hung thần ác quỉ cảm
thấy oai lực của Kinh nên thảy đều ẩn trốn, lánh xa
đi bốn phương, tiêu tan hình bóng, chẳng dám nhiễu
hại nữa. Công việc làm được tốt lành, hưởng phước vô
lượng.
Nếu có thiện nam tín nữ nào y theo lời Phật dạy mà
thi hành thì sau khi xây cất nhà cửa xong rồi, tất
nhiên gia đạo được bình an lâu dài, lại thêm giàu
sang vinh hiển, chẳng cần nhọc sức mưu cầu mà tự
nhiên cũng có của cải đem tới.
Như có người nào đi buôn bán phương xa, hoặc làm
quan phó nhậm, cùng tùng quân nhập ngũ mà tụng Kinh
Bát Dương này ba biến thì đều được an lành, nhà cửa
hưng thạnh, bực người cao sang, con cháu vinh hiển,
cha hiền con thảo, trai trung gái trinh, anh nhường
em kính, vợ chồng hòa thuận, hết lòng hiếu kính
phụng dưỡng song thân, các điều ước nguyện đều được
thỏa mãn.
Bằng có người nào bị quan quyền giam giữ, hoặc bị
giặc cướp bắt đi, nên để hết tâm thành tụng Kinh này
ba biến thì tức khắc tai qua nạn khỏi.
Còn như có người thiện nam tín nữ nào thường thọ trì
đọc tụng cùng giúp người biên chép Kinh Bát Dương
này thì người ấy dầu rủi sa trong nước lửa cũng khỏi
bị chìm đắm thiêu đốt, hoặc ở trong núi rừng có
nhiều hùm sói thú dữ, chúng nó thấy bóng người tụng
Kinh Bát Dương thì đều lánh xa không bao giờ dám hại
đến tánh mạng, vì người ấy có các vị thiện thần theo
hộ vệ, chẳng những thế mà sau còn chứng được quả
Phật nữa.
Hoặc có người nào miệng lưỡi xảo quyệt hay nói gian
dối, thêu dệt, đâm thọc, thô tục, mà người ấy tự
biết lỗi chừa bỏ, chuyên đọc tụng Kinh này thì tiêu
hết bốn lỗi trước, lại được tài biện thuyết không hề
ngăn ngại, rồi sau cũng chứng được quả Phật.
Này các thiện nam tín nữ, phàm cha mẹ có tội, đến
ngày lâm chung, chắc phải đọa vào địa ngục chịu trăm
phần khổ não, nếu được con cháu thành tâm tụng Kinh
này bảy biến thì cha mẹ thoát khỏi khổ ở địa ngục,
thần hồn được sanh lên thiên đường, gặp phật nghe
pháp, chứng được pháp nhẫn vô sanh trọn nên Phật đạo.
Phật lại kêu Bồ tát Vô Ngại mà nói: Kiếp quá khứ,
dưới thời đức Phật Tỳ Bà Thi giáo hóa, có hàng nam
nữ cư sĩ không hề tin bọn tà sư ngoại đạo mà chỉ tin
theo Phật pháp, ra công biên chép Kinh Bát Dương và
thường thọ trì đọc tụng Kinh này, muốn làm việc chi
thì cứ làm, không cần bói toán, coi ngày lựa giờ chi
cả, cứ giữ một lòng tin chân chánh, lại thường làm
việc bố thí, cúng dường bình đẳng, nên mới được thân
vô lậu, làm nên đạo Bồ tát, rồi sau chứng được quả
Phật, hiệu là Phổ Quang Như Lai, thành bực Chánh
Giác, kiếp tên Đại Mãn, nước gọi Vô Biên. Nhân dân
trong nước ấy đều có tâm chánh tín, tu hành theo
hạnh Bồ tát nên mới được hưởng phước báo tốt đẹp như
vậy. Ấy cũng do oai lực trì tụng Kinh Bát Dương này.
Lại nữa Bồ tát Vô Ngại, trong cõi Diêm Phù Đề, chỗ
nào có để Kinh Bát Dương này thì đều có tám vị Bồ
tát, các vị phạm thiên vương cùng hết thảy thần linh
đồng vây xung quanh ủng hộ Kinh ấy. Cho nên người
trì tụng Kinh này cần phải sắm sửa hương hoa cúng
dường như cúng Phật vậy.
Phật lại kêu Bồ tát Vô Ngại mà nói: Bằng có thiện
nam tín nữ nào giúp các người đời, diễn nói Kinh này,
giải rõ cho họ hiểu thấu được thực tướng, thông suốt
lý cao sâu huyền diệu, thì liền biết được chân lý
của tâm mình, tâm Phật và tâm Pháp. Hiểu biết được
lý ấy rồi, tức nhiên trí huệ đầy đủ, sáu căn thanh
tịnh.
Mắt thường thấy biết bao nhiêu là than sắc, song nhờ
trí huệ liền nhận biết các than sắc ấy đều thuộc về
lý không thật (giả tạm), mà cái không thật kia tạo
nên thân sắc này, cho đến thọ tưởng hành thức cũng
đều thuộc về lý không thật. Đó tức là Diệu Sắc
Thân Như Lai.
Tai thường nghe biết bao nhiêu là thứ tiếng, song
nhờ trí huệ liền nhận biết các thứ tiếng ấy đều
thuộc về lý không thật, mà cái không thật kia tạo
nên tiếng nói này. Đó tức là Diệu Âm Thinh Như
Lai.
Mũi thường ngửi biết bao nhiêu là mùi hương, song
nhờ trí huệ liền nhận biết các mùi hương ấy đều
thuộc về lý không thật, mà cái không thật kia tạo
nên mùi hương này. Đó tức là Hương Tích Như Lai.
Lưỡi thường nếm biết bao nhiêu là mùi vị, song nhờ
trí huệ liền nhận biết các mùi vị ấy đều thuộc về lý
không thật, mà cái không thật kia tạo nên mùi vị này.
Đó tức là Pháp Hỷ Như Lai.
Thân thường cảm thấy biết bao nhiêu là sự đụng chạm
êm dịu, song nhờ trí huệ liền nhận biết các sự đụng
chạm êm dịu đó đều thuộc về lý không thật, mà cái
không thật kia tạo nên sự đụng chạm này. Đó tức là
Trí Thắng Như Lai.
Ý
con người thường suy nghĩ phân biệt biết bao nhiêu
là việc, song nhờ trí huệ liền nhận biết các việc ấy
đều thuộc về lý không thật, mà cái không thật kia
tạo nên các việc này. Đó tức là Pháp Minh Như Lai.
Bằng có thiện nam tín nữ nào thấy sáu căn đều hiển
hiện trong nhân gian. Nếu miệng mình nói những điều
lành thì nghiệp lành càng thêm nhiều, rồi sẽ làm nên
Phật đạo. Còn miệng nói những điều độc ác thì nghiệp
ác càng thêm nhiều, ắt phải đọa vào địa ngục.
Phật bảo Bồ tát Vô Ngại: Về chân lý của việc lành
việc ác rất rõ ràng, chẳng nên không tin. Ông nên
hiểu thân tâm con người, thật là pháp khí của Phật.
Cũng như 12 bộ Đại Tạng Kinh đã có từ đời vô thủy
đến nay mà tụng hoài vẫn không hết và không hề hao
tổn chút nào. Kinh tạng của Như Lai duy có những bực
thức tâm kiến tánh mới tỏ biết mà thôi, còn các bực
thinh văn, phàm phu làm sao hiểu thấu được.
Phật lại bảo Bồ tát Vô Ngại nữa rằng:
Bằng có người nào đọc tụng kinh này mà tỏ ngộ được
thực tướng, tức biết thân tâm này chính thật là pháp
khí của phật. Còn như người nào say mê đàng dục lạc,
không tỉnh giấc mộng hồn, chẳng biết thân tâm mình
là căn bổn của Phật pháp, chắc người đó phải trôi
nổi trong sáu nẻo luân hồi, đọa đày trong ba đường
dữ, đắm chìm liên mien trong biển khổ, không được
nghe đến danh từ Phật pháp.
Lúc đó, có năm trăm vị thiên tử ở trong đại chúng
nghe Phật thuyết pháp rồi đều chứng được pháp Nhãn
Tịnh, rất đổi vui mừng, liền phát nguyện sẽ tu tới
quả vị Phật.
PHẦN THỨ BA
GIẢI RÕ CHÁNH ĐẠO VỀ VIỆC SANH TỬ TẨN TÁNG
Bồ
tát Vô Ngại lại bạch Phật rằng:
Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, tất cả người đời đều lấy
việc sanh tử là quan trọng, nhưng khi sanh
chẳng lựa ngày, hễ tới giờ thì sanh; còn khi chết
cũng không lựa ngày, hễ tới giờ thì chết, cớ sao
việc tẩn liệm an táng lại phải chọn ngày lành
giờ tốt rồi mới tẩn liệm an táng? Nhưng sau
khi tẩn liệm an táng rồi thì chỉ thấy tai họa
đem tới, phần nhiều con cháu thường nghèo hèn
khốn khổ, chứ ít thấy giàu sang vinh hiển.
Thỉnh cầu đức Thế Tôn mở lượng từ bi thương
xót các người mê tối kia, giảng rõ chánh pháp
nhân duyên sanh tử do đâu mà có, khiến cho họ
được tỉnh ngộ trở về với chánh đạo, không
còn làm những việc sai lầm như trước nữa.
Phật nói: Lành thay, tốt thay! Ông thật có lòng
thương những người mê tối ấy mà cầu
hỏi Như Lai về việc sanh tử cùng phép tẩn táng. Vậy
ông hãy chú ý mà nghe, tôi nay vì ông mà nói rõ về
chân lý của trí huệ và chánh pháp của đại đạo.
Luận về cái thể trời đất rộng lớn, còn mặt trời mặt
trăng vẫn luôn tỏ sáng thì năm tháng ngày giờ đều
tốt, không có chi là khác lạ cả.
Này Bồ tát Vô Ngại, xưa kia ông Nhân Vương Bồ tát có
tấm lòng từ bi rộng lớn, thương xót người đời không
khác nào cha mẹ thương con, nên mới giáng sanh xuống
cõi trần làm vị nhân chủ, cũng như cha mẹ nhân dân.
Đó
rồi mới thuận theo người đời mà dạy bày ra phong tục,
làm lịch để biết tính năm tháng ngày giờ, ban truyền
trong thiên hạ, cho biết mỗi năm có bốn mùa tám tiết,
rồi còn phân ra những ngày trực bình, trực mãn, trực
thành, trực thâu, trực khai, trực trừ, trực chấp,
trực nguy, trực phá, trực định, trực bế, trực kiên.
Những người ngu tối không biết xét theo chân lý mà
dùng, lại nhè tin theo văn tự, nên không tránh được
tai họa. Chẳng những thế, lại còn rước bọn tà sư về
nhà vẽ bùa yểm trấn, nói năng hoang đàng, bày đặt
cúng cầu tà thần, lễ tế ngạ quỉ. Làm như thế chỉ gây
thêm tội lỗi, rồi tự mình phải chịu lo phiền khổ não.
Mấy người như vậy chẳng những gây tai họa cho mình
mà còn mắc tội trái nghịch chánh lý của trời đất,
thành thử không khác nào bỏ ánh sáng của mặt trời
mặt trăng mà chui vào chỗ tối, trái hẳn với chánh
đạo rộng lớn. Không những thế, lại còn thường kiếm
coi kinh sách của tà sư ngoại đạo, đó mới thật là
trái ngược vậy.
Phật lại kêu Bồ tát Vô Ngại mà nói: Ông nên khuyên
những thiện nam tín nữ là lúc gần sanh, nên tụng
Kinh Bát Dương này ba biến thì sẽ sanh được dễ dàng
và rất tốt lành, đứa con ấy sẽ được thông minh trí
huệ, đầy đủ phước đức, không sợ chết yểu. Còn trong
lúc gần chết, cũng nên tụng Kinh Bát Dương này ba
biến thì sẽ được tốt lành không có việc chi làm cho
tổn hại cả.
Này Bồ tát Vô Ngại, ngày nào cũng tốt, tháng nào
cũng tốt, cho đến năm nào cũng
đều tốt cả. Chẳng có năm tháng ngày giờ nào mà không
tốt. Bởi vậy, hễ lo việc tẩn liệm an táng rồi, nên
tức thời tụng Kinh Bát Dương này bảy biến rất là tốt
lành, không những vong nhân được hưởng phước rất
nhiều mà con cháu cũng được giàu sang sống lâu, đến
khi lâm chung đều nên Phật đạo.
Lại nữa Bồ tát Vô Ngại, như chỗ đất mai táng đó,
chẳng cần phân Đông Tây Nam Bắc làm gì, thấy cuộc
đất ấy được yên ổn, người đời bằng lòng vui thích
thì quỉ thần cũng ưng thuận vui thích, nhưng cốt yếu
phải tụng Kinh Bát Dương này ba biến rồi sẽ mai táng,
xây cất phần mộ, tuyệt nhiên không có tai họa gì cả
mà gia đình thân quyến lại giàu sang, thật rất tốt
lành.
Khi đó, đức Thế Tôn muốn nhắc lại nghĩa trên, nên
mới nói kệ rằng:
Ngày nào tính việc cũng đều tốt,
Giờ nào tẩn táng cũng đều hay,
Sanh tử cần phải tụng kinh này,
Thật rất tốt lành nhiều lợi ích.
Tháng nào cũng là tháng lành hết,
Năm nào cũng là năm tốt cả,
Tụng kinh rồi mới lo tẩn táng,
Muôn đời sung sướng hưởng vinh hoa.
Lúc ấy trong đại chúng có bảy ngàn muon người nghe
Phật thuyết pháp xong, thì long dạ mở mang sáng suốt,
bỏ tà theo chánh, vì nhờ nghe pháp của Phật dạy mà
dứt hẳn lòng nghi hoặc, cùng đều phát tâm rộng lớn,
nguyện sẽ tu đến bực Phật.
PHẦN THỨ TƯ
LUẬN VỀ VIỆC CƯỚI GẢ Ở ĐỜI
Lúc bấy giờ, Bồ tát Vô Ngại lại bạch Phật rằng:
Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, tất cả người đời đều lấy sự
cưới gả làm nghĩa than tình, nhưng trước đó, họ còn
so đôi tuổi coi có hợp, rồi mới chọn ngày giờ tốt,
làm lễ cưới hỏi, nhưng sau ngày thành hôn, thường
nhận thấy vợ chồng ăn ở hòa thuận, giàu sang, sống
lâu thì ít; còn gặp cảnh nghèo khổ, sanh ly tử biệt
thì nhiều.
Tất cả sự mê tín lựa chọn đó, tại sao kết cuộc lại
sai khác như vậy? Ngưỡng cầu đức Thế Tôn dạy rõ về
vấn đề đó để chúng tôi được hết sự nghi ngờ.
Phật nói: Các ông hãy chú ý nghe cho rõ lời ta giải
đây. Luận trong trời đất về âm dương cần phải tương
đối. Như mặt trời hợp khí âm, mặt trăng hợp khí
dương, nước hợp âm, lửa hợp dương, trai hợp âm, gái
hợp dương (4). Ấy là khí trời đất hòa hợp, nên hết
thảy cỏ cây đều nương theo khí âm dương mà sanh sôi
nẩy nở. Mặt trời mặt
trăng xây vần thuận theo bốn mùa tám tiết, mưa nắng
điều hòa, tất cả muôn loài mới tồn tại. Trai gái hòa
hợp mới sanh sản ra con cháu. Đó là lẽ thường của
trời đất, cũng là lý tự nhiên và cũng là vấn đề cần
thiết ở đời vậy.
Này Bồ tát Vô Ngại, những hạng người thiếu học mê
tối chẳng biết phân biệt tà chánh, nên tin theo thầy
tà bày đặt bói toán để cầu sự tốt lành mà họ lại
không chịu làm những việc lành, chỉ cứ gây ra
toàn nghiệp ác! Chẳng những khi sanh tiền
bị tai họa liên miên mà tới khi mạng chung, họ ít
tránh khỏi sa đọa vào ba đường dữ là địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh. Trong bọn họ, nếu ai được trở lại làm
người thì rất ít, ít như chút đất dính nơi đầu móng
tay; còn những người bị sa đọa vào ba đường dữ thì
rất nhiều, nhiều như đất nơi đại địa vậy.
Lại nữa, Bồ tát Vô Ngại, những người được trở lại
làm người tin theo chánh pháp tu hành chỉ có một số
ít, ít như chút đất dính nơi đầu móng tay; còn hạng
người mê tín, chuyên gây nghiệp ác thì lại rất nhiều,
nhiều như đất nơi đại địa vậy.
Này Bồ tát Vô Ngại, nếu người đời muốn kết hôn nhơn,
chẳng cần phải coi mạng thủy mạng hỏa khắc nhau hay
bào thai niên mạng chẳng hợp làm chi, duy chỉ cần
coi trong bộ sách Lộc Mạng (5) để biết rõ phước đức
của đôi bên nhiều ít, rồi nương theo đó mà kết làm
quyến thuộc, song đến ngày cưới, phải tụng kinh này
ba biến rồi mới thành thân thì mọi việc đều tốt lành
cả, nào cửa cao nhà rộng, hưởng cảnh giàu sang.
Còn con cháu đều làm nên danh phận, thông minh sang
suốt lại thêm tài năng tột chúng, biết ăn ở hiếu
thuận kính nhường, thật rất tốt đẹp, không hề có nạn
thương vong yểu tử, phước đức đầy đủ. Tất cả về sau
đều thành Phật đạo.
Khi ấy có tám vị Bồ tát nương nhờ oai thần của Phật
mà chứng được phép Đại Tổng Trì (6) đều phát nguyện
thường ở trong thế gian đồng sanh chung lộn với
người đời, đem hết tài năng phá bọn tà giáo để lập
lại nền chánh đạo, hầu cứu độ tất cả bốn loài (7) tu
tới bực giải thoát.
Danh hiệu tám vị Bồ tát kể ra như sau:
1)
Bạt Đà Bà La Bồ tát lậu tận hòa. (8)
2)
La Lân Na Kiệt Bồ tát lậu tận hòa.
3)
Kiều Việt Đẩu Bồ tát lậu tận hòa.
4)
Na La Diên Bồ tát lậu tận hòa.
5)
Tu Di Thâm Bồ tát lậu tận hòa.
6)
Nhâm Kỳ Đạt Bồ tát lậu tận hòa.
7)
Hòa Luân Điều Bồ tát lậu tận hòa.
8)
Vô Duyên Quan Bồ tát lậu tận hòa.
Lúc đó, tám vị Bồ tát đều bạch Phật rằng: Ngưỡng
bạch đức Thế Tôn, chúng tôi nhân trước kia nhờ được
chư Phật truyền dạy cho phép thần chú đà la ni, nay
chúng tôi định đọc thần chú ấy để ủng hộ những người
thọ trì đọc tụng Kinh Bát Dương, tuyệt nhiên không
có chi lo sợ. Vì thần lực của chú ấy khiến cho hết
thảy những loài hung dữ không dám thương tổn đến
những vị nào tụng kinh này.
Ngay lúc ấy, tám vị Bồ tát đồng ra đứng trước Phật
mà tụng chú rằng:
“A
dà ni, a dà ni, a tỳ la, mạn lệ, mạn đa lệ, xà lê.”
Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, bằng có kẻ hung dữ nào muốn
đến làm phiền vị đang tụng Kinh Bát Dương, hễ nghe
chúng tôi đọc thần chú này, tức thì đầu kẻ ấy sẽ bể
ra làm bảy mảnh như nhánh cây A lê vậy.
PHẦN THỨ NĂM
CHỈ RÕ VỀ TÊN KINH
Lúc bấy giờ, Bồ tát Vô Biên Thân liền từ chỗ ngồi
đứng dậy đi tới trước Phật, quỳ gối chấp tay mà bạch
rằng: Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, duyên cớ nào tên Kinh
lại kêu là Bát Dương? Thỉnh cầu đức Thế Tôn giải rõ
cho chúng tôi được hiểu nghĩa lý, khiến cho tất cả
được tỏ ngộ bổn tâm, thấu rõ tri kiến của Phật, hầu
đoạn trừ hết lòng nghi hoặc.
Phật bảo Bồ tát Vô Biên Thân rằng: Lành thay lời ông
vừa hỏi! Các ông hãy lóng nghe cho rõ, nay tôi sẽ vì
đại chúng mà giải rõ nghĩa lý Kinh Bát Dương này.
Chữ BÁT có nghĩa là phân chia rành rẽ. Còn
chữ DƯƠNG thì có nghĩa là giải rõ cái lý đại
thừa thành phật. Hiểu thấu được lý ấy thì mới hay
phân rành được nhân duyên của tám thức, không có chỗ
nào là không thấu hiểu.
Phật lại nói: Dùng tám thức ấy làm bề ngang, còn chữ
Dương Minh làm bề dọc. Ngang dọc phù hợp với nhau
tức thành bộ kinh giáo, cho nên mới kêu là Kinh Bát
Dương.
Tám thức ấy là:
1)
Con mắt thấy liền nhận biết sắc tốt hay xấu.
2)
Lỗ tai nghe liền nhận biết tiếng lành hay dữ.
3)
Lỗ mũi ngửi liền nhận biết mùi thơm hay hôi.
4)
Cuống lưỡi nếm liền nhận biết vị mặn hay lạt.
5)
Cái thân đụng tới vật gì liền nhận biếtvật ấy mềm
hay cứng.
6)
Cái ý biết phân biệt tất cả mọi thứ.
7)
Cái thức Hàm tàng chứa đầy đủ các thứ hột giống.
8)
Còn thức A lại da thì bao trùm hết thảy.
Như vậy là phân chia rành rẽ cội gốc của tám thức,
có chi đâu mà không thấu hiểu. Phải biết hai con mắt
thật là Quang Minh Thiên, mà trong Quang Minh Thiên
đó, liền hiện ra đức Nhựt Nguyệt Quang Minh Thế Tôn.
Hai lỗ tai thật là Thinh Văn Thiên, mà trong Thinh
Văn Thiên đó, liền hiện ra đức Vô Lượng Thinh Như
Lai.
Hai lỗ mũi thật là Phật Hương Thiên, mà trong Phật
Hương Thiên đó, liền hiện ra đức Hương Tích Như Lai.
Cái cuống lưỡi thật là Pháp Vị Thiên, mà trong Pháp
Vị Thiên đó, liền hiện ra đức Pháp Hỷ Như Lai.
Cái thân thật là Tỳ Lư Giá Na Thiên, mà trong Tỳ Lư
Giá Na Thiên đó, liền hiện ra đức Thành Tựu Tỳ Lư
Giá Na Phật. Người nào tự thấy trong tâm mình có
Cảnh Tượng Phật thì liền hiện ra đức Phật Tỳ Lư Giá
Na Quang Minh.
Cái ý thật là Vô Phân Biệt Thiên, mà trong Vô Phân
Biệt Thiên đó, liền hiện ra đức Bất Động Như Lai.
Cái tâm thật là Pháp Giới Thiên, mà trong Pháp Giới
Thiên đó, liền hiện ra đức Không Vương Như Lai.
Cái thức Hàm tàng thật là Thức Thiên nên mới diễn
nói ra Kinh A Hàm và bộ Kinh Đại Bát Nhã Niết Bàn.
Còn cái thức A lại da thật là rộng lớn nên mới diễn
nói ra bộ Kinh Đại Trí Độ luận và bộ Kinh Lăng Già
luận.
Này Bồ tát Vô Biên Thân, ông nên hiểu: Phật tức là
Pháp, mà Pháp cũng tức là Phật, hiệp lại làm một thể
tướng liền hiện ra đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai.
Trong khi Phật nói Kinh Bát Dương này thì hết thảy
núi sông đất bằng cùng sáu phương đều chuyển động và
lại có ánh sang rực rỡ chiếu khắp trời đất lồng lộng
mênh mông không thể kể xiết, tất cả những chỗ tối
tăm đều đồng loạt tỏ sáng, cho đến tất cả địa ngục
cũng đều tiêu mất, tất cả tội nhân đều được thoát
khổ.
Khi ấy trong đại chúng, có tám muôn tám ngàn vị bồ
tát đồng thời chứng quả Phật và cùng chung một hiệu
là Không Vương Như Lai, kiếp kêu Ly Cấu.
Còn một vị Phật xuất thế độ đời bấy giờ tên hiệu là
Vô Biên. Hết thảy nhân dân trong kiếp đó đều được
quả vị Bồ tát. Vì những người ấy đồng cương quyết tu
theo sáu pháp ba la mật, không có lòng phân chia
ghen ghét, nên chứng được bực Vô Tranh Tam Muội (chánh
định).
Có
sáu muôn sáu ngàn vị tỳ khưu, tỳ khưu ni, cư sĩ nam,
cư sĩ nữ đều chứng được pháp Đại tổng trì, nên hiểu
thấu được lý nhứt thừa của Phật.
Cũng trong hội đó, có vô số hàng trời, rồng, quỉ dạ
xoa, thần càn thát bà, thần a tu la, thần ca hầu la,
thần khẩn na la, thần ma hầu la dà cùng hàng người
và hạng không phải người đều chứng được pháp Nhãn
Tịnh, dốc lòng tu hạnh Bồ tát.
PHẦN THỨ SÁU
LỜI PHÚ CHÚC
Phật kêu Bồ tát Vô Biên Thân mà nói: Bằng có người
nào được làm quan thăng chức, cùng ngày dọn về ở nhà
mới, phải trai giới thiết lễ tụng kinh này ba biến
thì được lợi lộc rất lớn vì có các vị thiện thần
theo ủng hộ, nên nội gia quyến đều được khương ninh
trường thọ, phước đức đầy đủ.
Này Bồ tát Vô Biên Thân! Bằng có thiện nam tín nữ
nào phát tâm tụng kinh này một biến thì cũng được
phước như tụng hết thảy các bộ kinh một biến. Còn
như biên chép kinh này một quyển thì công đức cũng
bằng biên chép hết thảy các bộ kinh khác. Kể về công
đức thì rất rộng lớn như cõi hư không, chẳng biết
đâu là bờ bến mà đo lường được, rồi sau đó, các
người ấy cũng đều được thành quả Phật.
Phật lại bảo Bồ tát Vô Biên Thân: Bằng trong chúng
sanh, có người nào không tin chánh pháp của Phật,
chấp tâm tà kiến, vừa nghe Kinh Bát Dương này đã
buông lời phỉ báng, bảo kinh ấy không phải Phật nói.
Người ấy trong lúc sanh tiền phải mang bệnh cùi, lở
lói đầy người, máu mủ cùng khắp, dơ bẩn tanh hôi, ai
trông thấy cũng nhờm gớm.
Chẳng những thế mà bệnh còn hành cho tới ngày chết,
rồi thần hồn phải đọa ngay vào Vô gián địa ngục. Cái
ngục này quanh năm suốt tháng bốn bề đều có lửa cháy
đỏ rực, trên táp xuống, dưới bốc lên, nóng như thiêu
đốt. Lại còn bị quỉ sứ hành hình, lấy giáo nhọn đinh
ba đâm nát thân thể, còn cho uống nước đồng sôi làm
cho gân xương đều tan nát rã rời. Vì nghiệp báo chưa
hết, nên lại được hoàn hình để chịu hành tội, một
ngày một đêm chết đi sống lại không biết bao nhiêu
lần. Cứ đành phải chịu cực hình đau khổ như thế,
không có giây phút nào ngừng.
Vì
bọn đó không tin chánh pháp, phỉ bang chân kinh, nên
mới bị quả báo như vậy!
Phật vì những người mắc tội đó, nên mới nói bài kệ
này:
Thân này vốn tự nhiên mà có,
Năm vóc cũng tự nhiên đầy đủ,
Thân lớn cứ tự nhiên lớn lên,
Còn già vẫn tự nhiên già lần.
Sanh ắt tự nhiên phải sanh ra,
Chết hẳn tự nhiên phải chết mà,
Muốn cầu sống lâu cũng không được,
Mà
mong chết sớm cũng không xong.
Sự
khổ sự vui do mình tạo,
Điều tà điều chánh tự mình theo,
Định muốn khởi làm công việc chi,
Chí thành tụng kinh chẳng coi bói.
Ngàn đời muôn kiếp gieo giống lành,
Chứng đạo bồ đề chuyển pháp luân.
PHẦN THỨ BẢY
CHỨNG NGỘ LÝ NHIỆM MẦU
Khi Phật nói kinh này rồi, tất cả đại chúng đều khen
xưa nay chưa từng được nghe pháp này. Nay Phật nói
cho nghe pháp huyền diệu, nên tâm trí được mở mang
trong sáng, vui mừng hớn hở đều hiện bày ra sắc
tướng Phật mà chẳng phải tướng Phật vì là không chấp
tướng. Thấu được chỗ tri kiến của Phật và tỏ ngộ chỗ
tri kiến của Phật mà không chấp sự thấu hiểu và tỏ
ngộ đó, và cũng không chấp một pháp nào cả. Như thế
mới hiểu được cái vui của cõi niết bàn.
Khi ấy đức Thế Tôn muốn nhắc lại những lời mầu nhiệm
trên, nên nói bài kệ này:
Thân tướng tốt, sáu căn trọn đủ,
Muôn ức người lành đã được sanh,
Hăng hái chuyên làm hạnh bố thí,
Làm người chẳng xẻn cũng không tham.
Phụ nữ được nghe pháp này rồi,
Phát tâm hớn hở rất vui mừng,
Ngày sau thoát khỏi thân phụ nữ,
Tái sanh ắt được làm nam tử.
Các thứ đao binh chẳng hại đặng,
Độc trùng thú dữ cũng lánh xa,
Quan quyền cho chí phường giặc cướp,
Muốn hại người đó cũng không xong.
Người đời trông thấy đều kính mến,
Trăm ngàn tai nạn đều tiêu hết,
Trước sau rốt ráo chẳng bị hại,
Trai gái ai ai tụng Kinh này,
Thì được phước đức như trên nói.
PHẦN THỨ TÁM
PHỤNG HÀNH THỦ HỘ
Khi bấy giờ, các vị Bồ tát cùng Bồ tát Di Lặc và bốn
vị Đại thiên vương đồng bạch Phật rằng: Ngưỡng bạch
đức Thế Tôn, chúng tôi cùng nhau phát nguyện ủng hộ
Kinh Bát Dương thần chú và xin gắng sức cứu giúp bảo
hộ những người nào chí thành tụng kinh này, dầu có
mắc bệnh tật chi đi nữa, cũng khiến cho được lành
mạnh hết. Rồi đó, các vị Bồ tát cùng ông Xá Lợi Phất
và các vị tỳ khưu, tỳ khưu ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ,
hiệp với hàng trời, rồng, quỉ, thần, a tu la, và
chuyển luân thánh vương đồng vui mừng đứng lên đảnh
lễ Phật và nguyện để hết lòng tin làm theo chánh
pháp của Phật đã dạy.
NGỢI KHEN KINH BÁT DƯƠNG
Kinh Bát Dương thật đạo chân chánh,
Ba
đời chư phật nói rõ ràng,
Tám vị Bồ tát đồng tâm giúp,
Chư vị thần linh cũng vây quanh.
Đời trước tu, phát huệ thành Phật,
Đời này ai nghe đều tỏ ngộ,
Muốn làm việc chi tụng kinh này,
Đã
là người lành không chết yểu.
Tôi nay nguyện độ khắp các loài,
Cầu nguyện điều chi đều thỏa mãn.
Từ
trước tới nay bị võng thức,
Nên có thân rồi chịu gian nan,
Bốn đại, tham sân si thiêu đốt,
Sáu căn, mười triền sử buộc ràng.
Ầm
ầm gió nghiệp thổi ép tới,
Núi vô minh chận trước lờ mờ,
Đắm mê dục lạc hồn chơi vơi,
Lửa tham sân đột nhiên lừng cháy,
Nghĩ nhớ ân ái biển sanh tử,
Lai láng đắm chìm dưới sóng tình,
Như rùa mù kiếm bọng cây trôi,
Như hột cải gieo khó trúng kim,
Phật ở trong thân đâu Phật khác,
Thánh hiền lập giáo sửa tâm người.
MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa,
thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết
khổ ách.
Xá
Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức
thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức
diệt phục như thị.
Xá
Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt,
bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không
trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ
thiệt thân ý, vô sắc thinh hương vị xúc pháp. Vô
nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc
vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử
tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc.
Dĩ
vô sở đắc cố, bồ đề tát đỏa y Bát Nhã Ba La Mật Đa
cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng
bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh niết bàn.
Tam thế chư phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, đắc A
Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
Cố
tri Bát Nhã Ba La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại
minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú,
năng trừ nhứt thiết khổ, chân thực bất hư.
Cố
thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa chú, tức thuyết chú viết:
“Yết
đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề
tát bà ha.” (Câu chót tụng 3 lần)
ĐẢNH LỄ CHƯ PHẬT
(Mỗi danh hiệu,
một tiếng chuông, một lạy)
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ tát.
Nam mô Vô Ngại Bồ tát.
Nam mô Phổ Quang Như Lai.
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai.
Nam mô Diệu Âm Thinh Như Lai.
Nam mô Hương Tích Như Lai.
Nam mô Pháp Hỷ Như Lai.
Nam mô Trí Thắng Như Lai.
Nam mô Pháp Minh Như Lai.
Nam mô Nhân Vương Bồ tát.
Nam mô Bạt Đà Bà La Bồ tát.
Nam mô La Lân Na Kiệt Bồ tát.
Nam mô Kiều Việt Đẩu Bồ tát.
Nam mô Na La Diên Bồ tát.
Nam mô Tu Di Thâm Bồ tát.
Nam mô Hòa Luân Điều Bồ tát.
Nam mô Vô Duyên Quan Bồ tát.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát.
Nam mô Nhựt Nguyệt Quang Minh Thế Tôn.
Nam mô Vô Lượng Thinh Như Lai.
Nam mô Thành Tựu Tỳ Lư Giá Na Phật.
Nam mô Cảnh Tượng Phật.
Nam mô Lư Xá Na Quang Minh Phật.
Nam mô Đại Thông Trí Thắng Như Lai.
Nam mô Bất Động Như Lai.
Nam mô Không Vương Như Lai.
Nam mô Vô Biên Như Lai.
Nam mô Di Lặc Bồ tát.
Nam mô Xá Lợi Phất Bồ tát.
NGỢI KHEN
Kinh Bát Dương bí mật,
Pháp mầu nhiệm khó lường.
Bực tam thừa tỏ thấu chứng thành phật,
Sáu trí đều trọn thấu rõ ràng,
Muôn đức thật trang nghiêm.
Chư phật đồng giáng chốn đạo tràng.
Nam mô Vô Ngại Bồ tát.
(Niệm 3 lần)
HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC
Phúng kinh công đức thù thắng hạnh,
Vô
biên thắng phước giai hồi hướng,
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh,
Tốc vãng Vô lượng quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não,
Nguyện đắc trí huệ, chơn minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ,
Thế thế thường hành Bồ tát đạo.
Nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trung,
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu,
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất thối Bồ tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
Ngã đẳng dữ chúng sanh,
Giai cộng thành Phật đạo.
TAM QUI
Tự
qui y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải Đại
Đạo, phát vô thượng tâm. (1 tiếng chuông, lạy 1
lạy)
Tự
qui y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh
tạng, trí huệ như hải. (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)
Tự
qui y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại
chúng, nhứt thiết vô ngại. (1 tiếng chuông, lạy 1
lạy)
C H U N G
Chú thích:
(1) Ngũ thổ là Thổ phủ, Thổ ôn, Thổ cấm, Thổ
phù, Thổ tinh.
(2) Lục giáp là Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn,
Giáp Ngọ, Giáp Thân, Giáp Tuất.
(3) 12 chi là Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ,
Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
(4) Âm là cung Ly, dương là cung Khảm.
(5) Sách Lộc Mạng là bộ Tam Hội Thông Mạng,
bộ Tam Thế Diễn Cầm, và bộ Tử Vi Đẩu Số, trọn pho ba
bộ.
(6) Tổng trì là thần chú hay còn gọi là đà la
ni.
(7) Bốn loài là loài có thai, loài đẻ trứng,
loài dưới nước, loài hóa sanh.
(8) Lậu tận hòa là các vị Bồ tát ở cõi trên
xuống cõi trần để tế độ người đời. Tuy ở cõi trần mà
tâm không nhiễm trần nên gọi là lậu tận hòa.
No comments:
Post a Comment